0904 222 604

LOADING...

Đánh giá lần đầu Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng – HND

1. Tổng quan doanh nghiệp

– Tên : CTCP Nhiệt điện Hải Phòng

– Lĩnh vực kinh doanh : Nhiệt điện

– Quá trình hoạt động : Nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng có 2 nhà máy lần lượt là Hải Phòng 1 và Hải Phòng 2. Nhà máy Hải Phòng 1 được đưa vào vận hành từ năm 2011 với 2 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất thiết kế là 300MW. Nhà máy Hải Phòng 2 được đưa vào vận hành từ năm 2013 với 2 tổ máy, mỗi tổ máy có công suất thiết kế là 300MW. Như vậy tổng công suất thiết kế là 1.200MW, với sản lượng điện bình quân hàng năm vào khoảng 7.5 tỷ kWh/năm

2. Bối cảnh ngành :

– Lũy kế đến hết năm 2019, sản lượng điện sản xuất năm 2019 đạt 231.1 tỉ kWh tăng trưởng 8.86% so với cùng kỳ năm ngoái, sản lượng điện thương phẩm đạt 209.4 tỉ kWh tăng trưởng 8.85% so với cùng kỳ năm ngoái. Tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện trung bình từ năm 2013 đến hết năm 2019 đạt 10.8%. Tỉ lệ hao hụt điện trên lưới cũng giảm từ mức 8.87% năm 2013 về còn 6.5% năm 2019.


3. Triển vọng ngành : Tích cực

– Chúng tôi dự phóng nhu cầu tiêu thụ điện sẽ tăng trưởng trung bình 9.7%/năm trong vòng 3 năm tới, trong khi tăng trưởng công suất lắp đặt chỉ đạt trung bình 6.9%/năm. Điều này dẫn tới khả năng thiếu hụt nguồn cung trong những năm tới đang ngày một rõ ràng hơn.

Theo báo cáo của Bộ Công thương, Việt Nam sẽ thiếu điện vào khoảng 6.6 tỉ kWh năm 2021, khoảng 11.8 tỉ kWh vào năm 2022 và đỉnh điểm vào là 15 tỉ kWh vào năm 2023

– Để bù đắp cho sự chênh lệch trên, EVN sẽ phải :

Tăng cường huy động công suất dư thừa của các nhà máy phát điện cũ : Thứ tự ưu tiên huy động điện sẽ là Thủy điện -> Nhiệt điện -> Điện khí -> Điện tái tạo do yếu tố chi phí giá thành.
Tăng nhập khẩu điện từ Lào, Trung Quốc

4. Ban lãnh đạo và sở hữu

– Là 01 doanh nghiệp nhà nước nên ban lãnh đạo của HND cũng mang nhiều yếu tố cơ bản an toàn và thận trọng. Đây là điều phù hợp với hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển của doanh nghiệp

– Các cổ đông của HND đa phần đều là các doanh nghiệp, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực điện và mang yếu tố đầu tư lâu dài, gắn bó với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.


5. Tình hình tài chính của doanh nghiệp

– Trong báo cáo Quý 1/2020 các khoản phải thu ngắn hạn là 2.817 tỷ, chiếm 63% tài sản ngắn hạn : Tuy doanh nghiệp không thuyết minh nhưng theo những báo cáo trước, thì đây là khoản phải thu đến từ Công ty Mua bán điện – Tập đoàn điện lực Việt Nam. Do đó khoản phải thu này là tương đối an toàn và NĐT có thể yên tâm về chất lượng nguồn vốn phải thu này.

– Các chỉ số trọng yếu tài sản doanh nghiệp không có nhiều thay đổi : Trong Quý 1/2020 tài sản dở dang dài hạn hạn tăng khoảng 10 tỷ đến từ việc doanh nghiệp đẩy mạnh việc hoàn thiện công trình hệ thống xử lý nước thải.

– Nợ dài hạn trong Quý 1/2020 giảm khoảng 375 tỷ : Điều này phù hợp với lộ trình trả nợ dài hạn của doanh nghiệp. Chúng tôi dự phóng trong 2 – 3 năm doanh nghiệp sẽ hết sạch hoàn toàn nợ vay dài hạn.

6. Tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

– Kết thúc quý 1/2020 doanh nghiệp ghi nhận doanh thu thuần tự hoạt động kinh doanh đạt 3.024 tỷ và LNST đạt 200 tỷ – tương ứng với mức tăng 24% và 100% so với cùng kì.

– Doanh thu thuần trong kì tăng chủ yếu do việc nâng cao sản lượng điện sản xuất. Trong bối cảnh các nguyên liệu đầu vào như than, dầu giảm giá làm cho biên lợi nhuận của doanh nghiệp cải thiện từ 9.8% lên 13%.

– Chi phí tài chính trong báo cáo quý 1 tăng mạnh, nguyên nhân chủ yếu đến từ việc lỗ tỉ giá 88 tỷ. Trong bối cảnh doanh nghiệp đang giảm dần nợ vay và yếu tố tỉ giá không mang tính lâu dài, chúng tôi cho rằng khoản mục này sẽ giảm dần trong thời gian tiếp theo.

7. Câu chuyện đầu tư

– Trước năm 2019, HND phải gánh khoản lỗ chênh lệch tỉ giá phát sinh trong giai đoạn xây dựng cơ bản của nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng 2 và Lỗ chênh lệch tỉ giá do đánh giá lại các khoản mục có gốc ngoại tệ tại thời điểm cuối năm 2015 : Trong giai đoạn xây dựng nhà máy thì HND có vay ngoại tệ để đầu tư, do phát sinh chênh lệch tỉ giá nhưng doanh nghiệp không ghi nhận ngay mà chia dần ra các năm sau để phân b, do đó KQKD của các năm trước tương đối thấp. Năm 2018 là năm cuối cùng HND tiến hành ghi nhận khoản lỗ này, do đó KQKD năm 2019 tăng trưởng đột biến và sẽ ổn định trong các năm tiếp theo.

– Do kết quả dinh doanh tương đối ổn định, HND tiến hành trả nợ gốc khi xây nhà máy rất đều đặn. Điều này làm cho chi phí lãi vay của doanh nghiệp giảm rất lớn trong những năm vừa qua. Mỗi năm doanh nghiệp này trả được 2.000 tỉ nợ vay – tương ứng với việc tiết kiệm được 120 tỉ tiền chi trả lãi. Dự kiến trong 02 năm nữa, HND sẽ trả hết toàn bộ số nợ vay dài hạn.

– Từ Quý 2/2020, tình hình thủy văn được dự báo là sẽ ổn định hơn, có lợi cho nhóm thủy điện. Tuy nhiên Chúng tôi cho rằng với tốc độ gia tăng nhu cầu sử dụng điện của Việt Nam vẫn là rất lớn, do đó HND vẫn sẽ được huy động với sản lượng cao, trên dưới 7 tỷ KWH / năm.

– Biến động của giá nguyên liệu đầu vào là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến lợi nhuận gộp của HND : Nguyên liệu chính đầu vào của HND là nguồn than cám trộn lẫn giữa than cám 5a và than cám 6 trong nước với tỉ lệ là khoảng 7:3, chủ yếu được khai thác từ các mỏ than thuộc bể than Đông Bắc. Giá than và giá dầu đang có xu hướng giảm trong trung hạn là tác nhân hỗ trợ tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

– Do tác động của dịch Covid 19, nhu cầu sử dụng điện và giá điện nhiều khả năng sẽ có sự sụt giảm trong ngắn hạn. Tuy nhiên do các hợp đồng PPA kí kết giữa HND và EVN có giá cố định bình quân nên sẽ không ảnh hưởng nhiều đến doanh nghiệp. Hiện tại LNG/KWH của HND khoảng 234 đồng/ KWh. Trường hợp có các thông tin liên quan đến việc tăng giảm giá điện của HND chúng tôi sẽ cập nhật sớm nhất đến Quý nhà đầu tư.

– Dự kiến tăng cổ tức : Với các doanh nghiệp nhiệt điên, mẫu hình chung sẽ là bắt đầu tăng cổ tức sau khi đã trả gần hết nợ. Trong những năm trước, do doanh nghiệp phải trả nợ chi phí lãi vay và chi phí chênh lệch tỉ giá quá lớn nên tỉ lệ cổ tức không cao. Tuy nhiên bắt đầu từ năm 2019 trở đi, chúng tôi cho rằng HND hoàn toàn có thể duy trì mức chi trả cổ tức dao động quanh mức 2.000 / CP. Đây là là khoản cổ tức tương đối hấp dẫn, trong điều kiện doanh nghiệp không mở rộng, giá nguyên liệu đầu vào và giá bán điện cho EVN không có những diễn biến tiêu cực.

KẾT LUẬN 

Câu truyện tăng trưởng đột biến lợi nhuận đến từ việc không phải thanh toán khoản chi phí chênh lệch tỉ giá từ giai đoạn xây dựng nhà máy 02 qua đi , HND bây giờ chỉ tập trung vào việc sản xuất kinh doanh và giảm chi phí lãi vay hàng năm. Chúng tôi thiên về kịch bản HND là 01 doanh nghiệp ổn định, chia cổ tức đều đặn và hấp dẫn hơn là định giá mức độ tăng trưởng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong vòng 2 – 3 năm tới, khi hết nợ vay, lợi nhuận của HND hoàn toàn của thể dao động từ 1300 – 1500 tỷ / năm – tương đương EPS 2.600 – 3.000 / năm . Giả định mức cổ tức ổn định là 20% bằng tiền mặt, HND cũng hoàn toàn hấp dẫn ở vùng giá từ 16 – 17 hiện tại với mức cổ tức/ thị giá = 12%. Với những NĐT dài hạn,đang tìm một mã cổ phiếu ổn định, an toàn và hấp dẫn trong bối cảnh dịch bệnh Covid 19 còn rất phức tạp, HND là một lựa chọn rất hợp lý trong giai đoạn hiện tại.