0904 222 604

LOADING...

Đánh giá CTCP Tập đoàn Hòa Phát – HPG

1. Tổng quan doanh nghiệp

– Tên : Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát

– Quá trình hoạt động : Khởi đầu là một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp (thiết bị phụ tùng và nội thất) thành lập từ năm 1992, Hòa Phát đã đầu tư mạnh sang mảng ống thép (1996), thép xây dựng (2001) và hiện là nhà sản xuất thép thị phần số 1 Việt Nam.

– Lĩnh vực kinh doanh : HPG Kinh doanh 4 lĩnh vực chính sau: Thép, Nông nghiệp, Bất động sản & Sx Công nghiệp khác.

2. Giới thiệu ngành thép

2.1 Quy trình sản xuất thép

a. Thép xây dựng:


Giai đoạn 1:


– Xử lý quặng sắt: loại bỏ các tạp chất và xử lý ô xi trong quặng sắt


– Sản xuất gang bằng công nghệ lò cao: Nạp quặng sắt, than cốc và một số chất phụ gia khác rồi đốt lò cao. Quá trình này sẽ hình thành gang lỏng và được tháo ra ngoài bằng lỗ ra gang.


Giai đoạn 2: Tạo dòng thép nóng chảy


– Dòng kim loại nóng chảy được hình thành từ giai đoạn xử lý quặng sau đó được dẫn tới lò BOF. Tại đây, kim loại nóng được xử lý, tách tạp chất.


Giai đoạn 3: Đúc phôi thép:


– Dòng kim loại sau khi được tạo dòng thép nóng chảy sẽ được đưa tới lò đúc phôi. Quá trình này sẽ tạo ra phôi thép để cán thép cuộn và thép thành phẩm.


Giai đoạn 4: Cán thép


– Phôi thép được đưa vào các nhà máy để cán ra các loại thành phẩm


b. Thép cuộn cán nóng (HRC)


– Các giai đoạn sản xuât thép cuộn cán nóng (HRC) về cơ bản giống thép xây dựng. Điểm khác duy nhất là Giai đoạn 4: Cán thép. Thép HRC phải cán dẹt, cho nên lực cán phải đều và không được làm hư hại đến chất lượng thép. Hiện tại ở Việt Nam chưa có Doanh nghiệp nội địa nào sản xuất được thép HRC, các Doanh nghiệp phải nhập khẩu thép HRC về. Trong nước, hiện chỉ có nhà máy Formosa (Đài Loan) có thể tự sản xuất thép HRC.

2.2 Các yếu tố đầu vào của ngành thép

– Nguyên vật liệu chính chế tạo nên thép: Quặng sắt, than cốc & thép phế. Trong đó, quặng sắt chiếm 40% chi phí, than cốc chiếm 30% , thep phế chiếm ~10% (tỷ lệ này có thể thay đổi tùy thuộc vào giá bán từng loại thép). Giá quặng sắt và than cốc ảnh hưởng trực tiếp đến Chi phí đầu vào của các DN sản xuất thép.


– Giá quặng sắt hiện tại giao dịch ở mức 104 USD/ tấn ( tháng 07/2020 ) : Năm 2019 đánh dấu sự tăng mạnh của giá nguyên liệu này khi sự kiện vỡ đập ở Brazil làm ảnh hưởng đến nguồn cung. Dự kiến giá quặng sắt năm nay sẽ ổn định hơn so với năm ngoái.

– Giá than cốc tại thời điểm hiện tại quanh 109 USD/tấn ( tháng 7/2020 ) : Xu hướng giá  than cốc đang giảm dần và đây là dấu hiệu tốt cho các doanh nghiệp ngành thép.

Có thể thấy việc biến động giá các nguyên liệu đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành. Một điểm trừ của ngành thép là khi giá nguyên vật liệu tăng, giá đầu ra của sản phẩm không thể tăng tương ứng, thậm chí là giữ nguyên dẫn đến biên lợi nhuận gộp giảm và ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh của toàn ngành.

3. Triển vọng ngành thép

3.1 Triển vọng ngành thép trong nước

– Ngành thép Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn mở rộng với tốc độ tăng trưởng cao ( CAGR 2013 -2019 là 18% ). Mặc dù bản chất là ngành có tính chu kì, tuy nhiên với nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phát triển, nhu cầu đầu tư xây dựng liên tục tăng, Chúng tôi cho rằng ngành thép ở Việt Nam vẫn là một ngành đáp ứng được tiêu chí tăng trưởng. Trong vòng 5 – 7 năm tới vẫn duy trì tăng trưởng trung bình 7% – 8%.

– Ngành thép nói riêng và vật liệu xây dựng nói chung đi liền với nhu cầu của ngành xây dựng. Tuy nhiên trong ngắn hạn chu kì ngành xây dựng đang đi xuống, điều này dẫn đến việc ngành thép trong nước đang duy trì trạng thái cung lớn hơn cầu. Với việc những tổ hợp sản xuất với quy mô lớn như Hòa Phát Dung Quất và nhà máy VAS Nghi Sơn đi vào hoạt động, tổng sản lượng cầu sẽ tăng lên khoảng 2,5 triệu tấn.

– Hai mảng lớn nhất trong ngành thép là thép xây dựng và thép HRC lại có những đặc điểm trái ngược nhau. Trong khi ngành thép xây dựng như chúng tôi chia sẻ ở trên dư cung khoảng 1 triệu tấn thì thép HRC lại không đủ cho nhu cầu sản xuất trong nước. Nhu cầu thép HRC mỗi năm khoảng 10 triệu tấn và hiện tại chỉ có 02 doanh nghiệp có khả năng sản xuất là Formasa 5 triệu tấn và Hòa Phát 2 triệu tấn.

– Điểm sáng lớn nhất hiện nay đến từ việc đẩy mạnh đầu tư công của Chính phủ, từ đó tạo ra nhu cầu tiêu thụ thép. Thủ tướng Chỉnh phủ đăt ra yêu cầu phải giải ngân hết 700,000 tỷ đồng (30 tỷ USD) trong năm 2020 phục vụ cho các dư án đầu tư công. Dự kiến, các dư án sẽ được khởi công ngay trong Quý 3.2020 thay vì như kế hoach trước đây là Quý 1.2021. Với nhu cầu xây dựng được phục hồi như trên, các DN sản xuất thép sẽ có thêm các “đơn hàng” thép mới, đảm bảo sản lượng tiêu thụ của Doanh nghiệp.

– Trong năm 2016 và 2017, Bộ Công thương VN đã áp dụng chính sách thuế tự vệ cho các mặt hàng thép và hết hạn vào tháng 03/2020.  Hiên tại thuế tự vê cho phôi thép và thép dài đã được gia hạn cho đến ngày 22/03/2023. Như vậy, ngành thép vẫn được hưởng lợi từ chính sách thuế của nhà nước ít nhất trong 3 năm tới.

– Bức tranh cung – cầu của thép HRC lại hoàn toàn khác khi cung lại nhỏ hơn cầu. Hiện nay, trong nước, các DN phải nhập khẩu thép HRC từ nước ngoài hoặc mua từ nhà máy Formosa Hà Tĩnh; chưa có DN Việt Nam nào có thể sản xuất được thép HRC. Với sản phẩm này, HPG là điểm nhấn của ngành thép Việt Nam, khi dự án Dung Quất đi vào vận hành trơn tru trong năm nay, Hoà Phát sẽ tự chủ được nguyên liệu HRC cho các nhà máy, nhu cầu nội bộ khoảng 1 triệu tấn và 1 triệu tấn còn lại bán ra nước ngoài.

3.2 Triển vọng ngành thép xuất khẩu


– Thị trường xuất khẩu thép đối mặt với rất nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc ngành thép là ngành xương sống công nghiệp nặng, do đó các nước luôn duy chủ nghĩa bảo hộ để bảo vệ các doanh nghiệp trong nước. Ngoài việc đánh thuế cao, ngành thép cũng thường xuyên đối mặt với những vụ kiện chống bán phá giá, điều tra, áp thuế thương mại đặc biệt. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ xuất khẩu thép của các doanh nghiệp Việt Nam.

3.3 Chiến lược cạnh tranh trong ngành thép

– Cuộc chiến cạnh tranh trong ngành thép để chiếm thị phần là cuộc cạnh tranh gay gắt về giá. Đặc điểm đối với sản phẩm thép dài là: giá rẻ thì mua, khách hàng sẽ không để tâm đến quá nhiều về thương hiệu sản phẩm, mà giá chính là yếu tố dẫn dắt tâm lý mua hàng của khách hàng nhiều nhất.

– Để có thể chiến thắng trong cuộc tranh về giá, yếu tố quan trọng nhất là Giá vốn hàng bán. Doanh nghiệp nào có giá vốn hàng bán thấp nhất sẽ có cơ hội “làm chủ” cuộc chơi về giá bán sản phẩm. Để đạt được giá vốn hàng bán thấp, DN cần phải có năng lực triển khai dự án mạnh (càng nhanh càng có hiêu quả) cùng với khả năng quản lý hàng tồn kho, nguyên vật liệu. Ngoài ra khi DN đạt được quy mô lớn thì hoàn toàn có thể “deal” giá nguyên vật liệu xuống thấp và tiết kiệm được chi phí logistic. Với giá bán thấp hơn so với thị trường, giá vốn cũng thấp, DN dễ dàng chiếm được thị phần và đẩy đối thủ out ra khỏi thị trường đầy tính cạnh tranh này!

4. Ban lãnh đạo và sở hữu

– HPG là doanh nghiệp có số lượng cổ đông trong và ngoài nước nắm giữ khá lớn. Ban Lãnh đạo và người nhà nắm giữ khoảng 42% cổ phiếu – khá lớn. Người có liên quan nắm giữ 8%; cổ đông nước ngoài nắm giữ 38%.  Điều này giúp doanh nghiệp tận dụng được nguồn vốn lâu dài từ các cổ đông lớn  trong khi cổ đông nhỏ lẻ được bảo vệ quyền lợi.


– Một yếu tố chúng tôi đánh giá cao nhất ở HPG chính là đội ngũ lãnh đạo mà đứng đầu là ông Trần Đình Long và cộng sự. Gắn bó với Hòa Phát từ những ngày đầu thành lập và lèo lái con thuyền HPG đến ngày hôm nay. Đầu cơ Tích trữ đặc biệt yêu thích những lãnh đạo có sự gắn bó nhất định với doanh nghiệp và chia sẻ lợi ích với cổ đông trong những hoàn cảnh khó khăn nhất.

– Ban lãnh đạo Hòa Phát cũng là những người rất thận trọng và có những toan tính chắc chắn. Mặc dù là doanh nghiệp mở rộng liên tục nhưng Tỉ lệ nợ vay/VCSH của HPG luôn ở mức dưới 1. Với đặc thù là ngành cần đầu tư cố định lớn việc duy trì tỉ lệ nợ vay ở mức thấp giúp doanh nghiệp có thời gian để hoạt động ổn định trước khi tính đến việc tăng trưởng đột phá.

5. Tình hình kinh doanh


5.1. Tổng quan những lĩnh vực Kinh doanh chính:


– HPG Kinh doanh 4 lĩnh vực chính sau: Thép, Nông nghiệp, Bất động sản & Sx Công nghiệp khác.

I. Thép : Thị phần và sản lượng tiêu thụ thép xây dựng :

Hiện tại HPG là DN sản xuất thép có thị phần lớn nhất tại Việt Nam:

– Quy mô sản lượng và hiệu quả hoạt động của Hòa Phát vượt trội so với các doanh nghiệp khác trong ngành.


– Luỹ kế 6 tháng đầu năm 2020, HPG đã cung cấp ra thị trường trong và ngoài nước 1.51 triệu tấn thép xây dựng, tăng 12,4%  so với cùng kỳ năm ngoái.


– Về thị trường miền Băc, tăng thị phần rất khó vì nhu cầu tiêu thụ không tăng trưởng và tỉ lệ thị phần của HPG ở mức khá cao. Mục tiêu 40% thị phần ngành thép của Chủ tịch HPG cũng sẽ là thách thức trong tình trạng thi trường miền Bắc như trên.

– Về thị trường miền nam – Có thể nhận thấy rằng miền Nam là khu vực mà HPG đang xem là mục tiêu trọng tâm để đánh chiếm thị phần, với thị phần Q1/2020 tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.


– Về xuất khẩu, hiện nay đang khá tốt. Nguyên nhân một phần có lẽ do Dung Quất gần miền Nam nên tạo điều kiện thuận lợi cho viêc đánh chiếm thị phần ở Campuchia. Lưu ý rằng thị phần tại Campuchia là 1.2 triệu tấn/ năm, và đặc biệt đất nước này chưa có nhà máy thép. Về mặt số liệu, xuất khấu thép thành phẩm tháng 5 đạt 160,000 tấn, tăng 50% so với cùng kỳ 2019. Các thị trương xuất khẩu thép thành phẩm gồm Nhật Bản, Úc, Canada, Thái Lan, Campuchia, Malaysia,…Đối với phôi thép, từ đầu năm tới nay, lượng phôi xuất khẩu tăng rất mạnh so với năm 2019 với sản lượng xuất khẩu đạt 596,000 tấn, trong đó riêng TQ là 316,000 tấn, còn lại xuất khẩu sang Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Srilanka, Philippines.


II. Nông nghiệp:

 Thị phần bò Úc từ 42% từ cuối 2018 lên 50% năm 2019, HPG tiếp tục khẳng định vị thế, giữ thị phần số 1 về cung cấp bò Úc trên cả nước. Đặc biêt, dưới tác động của Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi, mảng Nông nghiệp của HPG trong Q1.2020 đã tăng đáng kể về mặt Doanh thu và LNG (giá thịt heo tăng) và tỷ trọng cũng tăng tương ứng. Với việc dịch Covid-19 vẫn chưa được kiểm soát hoàn toàn khả năng cao đây vẫn là yếu tổ thúc đẩy tăng trưởng LN mảng nông nghiệp của Hòa Phát


III. Bất động sản:

Việc Việt Nam được hưởng lợi từ làn sóng dịch chuyển của các doanh nghiệp FDI tác động tích cực đến mảng Bất động sản của HPG. Các KCN liên tiếp đón nhiều DN lớn trong và ngoài nước thuê đất làm nhà xưởng, đưa mảng BĐS nhà ở, khu đô thị và kinh doanh hạ tầng KCN có nhiều khởi sắc. Tính hết 2019, các KCN của Hoà Phát đã cho thuê được trên 432,000 m2 đất.


IV. Ống thép Hoà Phát giữ vững ngôi vị số 1 Việt Nam, với trên 31.5% thị phần


V. Tôn Hoà Phát :

Là một lĩnh vực non trẻ khi chỉ mới đi vào hoạt động được gần 02 năm tuy nhiên các sản phẩm của HPG đã có chỗ đứng nhất định trên thị trường tôn. HIện tại thị phần chỉ đứng sau Hoa Sen, Nam Kim và Tôn Đông Á.

VI Sản xuất công nghiệp khác :

Đây là hoạt động truyền thống của doanh nghiệp với 03 sản phẩm chính là thiết bị phụ tùng, nội thất và điện lạnh.

– Kế hoạch kinh doanh 2020: Sản lượng tiêu thụ thép xây dựng 3.5- 3.6 triệu tấn (+26-29% yoy), phôi thép 800 nghìn tấn, ống 750 nghìn tấn tôn mạ 120 nghìn tấn, HRC 500 nghìn tấn. Doanh thu 85,000- 95,000 tỷ đồng (+31-47% yoy), LNST 9,000 – 10,000 tỷ (+20-33% yoy). Mảng nông nghiệp đóng góp 10,000 tỷ doanh thu và 1,200 tỷ LNST. Cổ tức 2019 dự kiến 5% tiền mặt và 20% cổ phiếu.

6. Tình hình tài chính

– Doanh thu của HPG tăng trưởng liên tục trong những năm qua tuy nhiên do yếu tố nguyên liệu đầu vào biến động tiêu cực dẫn đến lợi nhuận sau thuế không có sự tăng trưởng tương ứng

– Tỉ trọng doanh thu và lợi nhuận sau thuế qua các năm :

– Tài sản dở dang của HPG tăng mạnh trong suốt 2 năm qua tương ứng với việc xây dựng Đại dự án Dung Quất. Đáng chú ý bắt đầu từ Quý 4/2019, tổng tài sản dở dang của HPG đã bắt đầu giảm cho thấy dự án Dung Quất đã hoàn thiện và đi và dần đi vào hoạt động.

– Để tài trợ cho dự án Dung Quất, ngoài việc huy động thêm vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu HPG đã tiến hành vay nợ tương đối lớn (Quý 1/2020 là 41.000 tỷ). Nhiều Nhà đầu tư lo ngại về dòng tiền và hoạt động kinh doanh của Hòa Phát không đủ “trả nợ”. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, mặc dù mở rộng gấp 3 lần quy mô, tỉ lệ Nợ vay/VCSH của HPG chỉ là 0.72 lần – một ngưỡng tương đối an toàn với các doanh nghiệp tại Việt Nam. ( Để dễ hình dung, chúng ta có thể so sánh tỉ lệ Nợ vay/ VCSH của một doanh nghiệp cùng ngành là HSG – con số hiện tại là gần 1.5 lần – gấp đôi HPG )


– Là một doanh nghiệp đầu ngành với những lợi thế cạnh tranh bền vững, HPG có tỉ lệ Chiếm dụng vốn/Bị chiếm dụng vốn tương đối cao. Tỷ lệ chiếm dụng vốn Q1.2020 là 312%



– Doanh thu Q1.2020 đạt 19,233 tỷ (+ 28.5% YoY), LNG đạt 3,763 tỷ (+43.4% YoY) và LNR đạt 2,285 tỷ (+26.9% YoY). Đặc biệt, trong ĐHĐCĐ 2019, HPG cho biết KQKD quý 2.2020, đạt gần 2,700 tỷ đồng, cao hơn gần 32% YoY và là quý có LN cao nhất lịch sử của HPG. Luỹ kế 6 tháng, HPG ước đạt khoảng 5,000 tỷ LNST (+29.5% YoY).


–  Nguyên nhân: Lĩnh vực thép và nông nghiệp là 2 mũi nhọn giúp HPG tăng trưởng đáng kể.
Trong 3 tháng đầu năm, thép xây dựng Hoà Phát đã cung cấp cho thị trường trên 732,000 tấn (chưa bao gồm sản lượng phôi thép) chiếm 31.9% thị phần tiêu thụ toàn thị trường, tăng nhẹ so với cùng kỳ. Trong đó, lượng thép thành phẩm xuất khẩu gần 135,000 tấn (+74.8% YoY). Đặc biệt, lượng phôi thép HPG cung cấp cho thị trường đạt khoảng 350,000 tấn, chủ yếu là xuất khẩu (chủ yếu TQ, các nước Đông Nam Á).


– Với sản phẩm ống thép, HPG đã cung cấp cho thị trường gần 145,000 tấn, tiếp tục giữ vị trí số 1 thị trường với 31.1% thị phần.


– Về nông nghiệp, dịch tả lợn và Covid-19 là hai tác nhân bất ngờ khiến cho DT và LN của mảng này tăng (thịt heo tăng giá). Doanh thu tăng 59% YoY và LNG tăng 420% YoY – rất ấn tượng.


– Vì sao trong bối cảnh Covid-19 mà sản lượng tiêu thụ thép xây dựng của HPG vẫn tăng trưởng? Nguyên nhân đến từ thị trường miền Nam, HPG đã xuất sắc chiếm và tăng được thị phần tại miền Nam. Cụ thể, thép xây dựng tiêu thụ tại miền Nam tăng 89.7% YoY. Về xuất khẩu, HPG chủ yếu tăng trưởng xuất khẩu phôi thép cho TQ do TQ đẩy mạnh xây dựng.

Tổng quan: Hoà Phát là 1 Doanh nghiệp có sức khoẻ tài chính lành mạnh cùng KQKD, Hiệu quả và khả năng sinh lời tốt.

8. Câu chuyện đầu tư


a. Tình hình đầu tư các dự án lớn:


i. Dự án Khu Liên hợp gang thép Hoà Phát Dung Quất củng cố vị thế doanh nghiệp thép đầu ngành của Hòa Phát


– Tổng đầu tư: 60,000 tỷ đồng
– Công suất thiết kế: 4 triệu tấn/ năm
Giai đoạn 1: 2 triệu tấn thép dài/ năm
Giai đoạn 2: 2 triệu tấn thép HRC/ năm
– Tiến độ: Đã đưa vào vận hành các hạng mục cùa Giai đoạn 1 và tiếp tục đâng đầu tư xây dựng Giai đoạn 2. Tổng số tiền đã đầu tư cho Dự án tính đến hết năm 2019 là 46,000 tỷ đồng. Dự kiến trong Quý 2/2020, giai đoạn 2 sẽ đưa vào hoạt động.
– Song song với việc vận hành thử nghiệm giai đoạn 1, Cảng biền Hoà Phát Dung Quất có khả năng đón tàu 200,000 tấn cũng đang hoàn thành. Khi hoàn thành 2 giai đoạn dự án, cảng của HPG sẽ có tổng công suất 32 triệu tấn/ năm.


ii. Dự án KĐT Bắc Phố Nối, Hưng Yên


– Diện tích: 262 ha
– Tổng đầu tư: Dự án chia thành 2 phân kỳ. Phân kỳ 1 dự kiến khoảng 6,500 tỷ đồng tổng đầu tư. Sau khi xong phân kỳ 1, sẽ tiếp tục đầu tư phân kỳ 2.
– Tiến độ: Đã hoàn thành giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng cây xanh. Dự kiến bắt đầu bán hàng từ cuối năm 2020.

b.  Lợi thế cạnh tranh:


i. Thị phần: HPG có thị phần thép số 1 Việt Nam,tuy nhiên mới chỉ mạnh ở 02 thị trường miền Bắc và Bắc miền Trung với thị phần lần lượt là 24% và 42.3%. Thị trường tiêu thụ ở miền Nam đang được mở rộng, tăng cường sự hiện diện rộng khắp cả nước.


iii. Thương hiệu: HPG là thương hiệu về thép khắc sâu vào tâm trí người Việt Nam.


iv. HRC: Như đã nói ở trên, hiện tại trong nước ngoại trừ nhà máy Formosa (Đài Loan) có thể sản xuất HRC, chưa có DN trong nước nào có thể tự sản xuất HRC. Với dự án Khu liên hợp Gang thép Dung Quất, HPG hoàn toàn có năng lực tự sản xuất HRC, giảm thiếu việc nhập khẩu HRC (giảm chi phí). Hơn nữa, hiện nay cung HRC đang thấp hơn cầu, điều này có thể giúp HPG “push” được giá bán HRC. Có thể nói HRC chính là chiếc “bánh béo bở” nằm trong chiến lược của HPG.


v. Bến cảng: Hệ thống bến cảng là lợi thế rất lớn và riêng có của HPG, giúp tối ưu hoá bài toán logistic. Nhờ có cảng nước sâu, mỗi tấn nguyên nhiên liệu giúp Hoà Phát Dung Quất giảm được 3-5 USD/ tấn, đây là lợi thế lớn vì nguyên liệu nhập hàng năm lên tới nhiều triệu tấn.


vi. Giá vốn hàng bán : Đây là lợi thế lớn nhất của HPG so với tất cả các doanh nghiệp khác trong ngành. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc :

Quy mô sản xuất lớn, tiết giảm được các chi phí liên quan.

Sử dụng công nghệ hiện đại: Nâng cao năng suất, giảm tiêu hao nguyên vật liệu

Triển khai dự án nhanh, đồng bộ giúp tiết giảm chi phí đầu tư tài sản cố định.

Chi phí cố định mỗi tấn công suất thép của HPG chỉ khoảng 600 USD, trong khi các đối thủ khác là trên 1.000 USD. Biên lợi nhuận cao hơn đối thủ 10% – 20%.

c. Rủi ro doanh nghiệp

– Biến động giá nguyên vật liệu : Là ngành công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào nguyên liệu đầu vào. Với việc giá quặng sắt, than, điện… tăng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến biên lợi nhuận của HPG.

– Rủi ro tiêu thụ : Khả năng hấp thụ của thị trường là một ẩn số đối với Hòa Phát. Với việc nhu cầu của ngành thép đang bị ảnh hưởng ngắn hạn bởi dịch bệnh Covid 19 và lâu dài khi chu kì ngành xây dựng chưa khởi sắc, đây sẽ là khó khăn chung của cả ngành. Với việc mở rộng với quy mô lớn, áp lực dành cho HPG sẽ là cạnh tranh, giành thêm thị phần của các doanh nghiệp khác.

– Rủi ro vận hành : KLH Gang thép Dung Quất là một đại dự án có quy mô lớn gấp đôi so với Hải Dương với rất nhiều hạng mục công trình liên hoàn. Do đó, vận hành trơn tru và đồng bộ dự án này sẽ tương đối phức tạp, và tiềm ẩn những rủi ro chưa lường trước được, có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, đặc biệt là với sản phẩm mới là HRC.

– Tác động đến môi trường : Là một ngành công nghiệp nặng hoạt động ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, các thông tin hoặc sự kiện liên quan đến hệ sinh thái xung quanh khu liên hợp Dung Quất sẽ có tác động xấu đến hình ảnh công ty.

– Rủi ro vĩ mô : Kinh tế Việt Nam và thế giơi tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh Covid 19 khiến nhu cầu xây dựng và sử dụng thép bị đình trệ, tác động trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp.

9. Định giá

Dù ngành thép là một ngành có tính chu kì, tuy nhiên Chúng tôi đánh giá HPG vẫn là một doanh nghiệp tăng trưởng, do đó phương pháp định giá P/E tương đối phù hợp với HPG

Dự phóng KQKD năm 2020, 2021,2022

Giá mục tiêu Đầu cơ Tích trữ dự phóng cho năm 2022 của HPG là 38.400. Với mức giá hiện tại quanh vùng 28.000 – tương ứng với upside 37% trong 2.5 năm tới.