0914 699 604

LOADING...
20Oct

Đánh Giá PHR Quý 03/2019

by Người điều hành

PHR – Công ty cổ phần Cao su Phước Hòa vừa ra báo cáo kết quả kinh doanh quý 3. Đội ngũ Đầu cơ Tích trữ trân trọng gửi tới bạn đọc những đánh giá nhanh về một case đầu tư đang nằm trong danh sách theo dõi của chúng tôi.

1.Hoạt động kinh doanh cốt lõi nhiều năm trở lại đây gặp nhiều khó khăn : Trong kỳ, hoạt động kinh doanh lõi không có nhiều ấn tượng. Doanh thu giảm 13.5%. Lợi nhuận gộp tăng nhẹ 5.6%. Giá cao su đang ở vùng đáy của mọi thời đại và được dự báo sẽ tiếp tục khó khăn trong 5 năm tới  PHR RẤT KHÓ có sự đột biến trong hoạt động kinh doanh cốt lõi.

2. Trong lộ trình tái cấu trúc của Tập đoàn cao su Việt Nam, thì chuyển đổi mục đích sử dụng với đất công nghiệp trồng cây cao su hiện tại là một trong 3 mũi nhọn kinh tế. Và là xu hướng tất yếu sẽ xảy ra : Phước Hòa giống với một doanh nghiệp chuyển lõi kinh doanh (từ cao su) sang bất động sản khu công nghiệp. Nguồn thu từ mủ cao su trong 5 năm trở lại đây rất bấp bênh. Từ năm 2017, lợi nhuận có sự tăng trưởng đột biến nhờ thanh lý cây cao su. Riêng trong năm 2018, lợi nhuận thanh lý cây cao su đã đóng góp 425 tỷ trong tổng số 643 tỷ LN cả năm. Kế hoạch các năm tiếp theo sẽ chuyển đổi các diện tích trồng cây cao su sang làm khu Công nghiệp.

3. Tăng trưởng đột biến lợi nhuận trong kỳ đến từ lợi nhuận khác. Cụ thể từ khoản bồi thường đất chuyển giao cho VSIP và NTC  trong tháng 9/2019, ghi nhận 330 tỷ 

 

Đối với dự án VISIP III:

– Lợi nhuận từ bàn giao đất cho VSIP để thực hiện VSIP III: Tổng số 691 ha. Tiền đền bù 1.3 tỷ/ha à Tổng số bồi thường 898.3 tỷ đồng. Thời gian chi trả: trong 2 năm 2019 và 2020, bắt đầu từ tháng 9/2019.

– Đồng thời, VSIP sẽ chia cho Phước Hòa 20% lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cho thuê đất. Trong mọi trường hợp, lợi nhuận VSIP chia cho Phước Hòa sẽ không thấp hơn 1.2 tỷ đồng/ha (tính trên tổng diện tích 691 ha), khoảng 829 tỷ đồng. Tuy nhiên, lợi nhuận này được chia theo tiến độ cho thuê đất, không hạch toán một lần. Và khoản thu nhập này của Phước Hòa phụ thuộc vào tốc độ lấp đầy của dự án. – Trước đó, các dự án VSIP I (500ha) mất khoảng 8 năm để lấp đấy 100%, dự án VSIP II (2.045 ha) và VSIP II mở rộng (1.700 ha) mất khoảng 10 năm để lấp đầy 99%. Dự án VSIP III quy mô khoảng 1.000ha, tổng vốn đầu tư 6.407 tỷ đồng, dự kiến lấp đầy diện tích trong khoảng 3 – 5 năm. Nghĩa là khoản tiền 829 tỷ đồng sẽ được phân bổ trong khoảng 3 – 5 năm.

– Ngoài ra, Phước Hòa và VSIP có khả năng sẽ ký hợp đồng hợp tác kinh doanh liên quan đến khu đất nêu trên. Theo đó, Phước Hòa góp vốn 20% vốn điều lệ vào dự án VSIP III và sẽ được chia thêm lợi nhuận (dựa trên tỷ lệ góp vốn) của toàn bộ dự án. Lợi nhuận này tách biệt với những khoản bồi thường nêu trên. è Như vậy, trong điều kiện hoàn hảo, mỗi 01 ha đất chuyển giao, Phước Hòa được nhận tối thiểu 2.5 tỷ đồng. Chưa kể lợi nhuận từ hợp tác kinh doanh và các khoản đền bù đối với các tài sản khác trên đất (hạ tầng giao thông, mương, cống, vật kiến trúc và các tài sản cố định khác…)

ĐỐI VỚI DỰ ÁN NAM TÂN UYÊN MỞ RỘNG GIAI ĐOẠN II

– Tổng diện tích bàn giao cho Nam Tân Uyên: 345 ha. Giá đền bù 2.5 tỷ. Tổng thu nhập ước tính 862.5 tỷ. Thời gian bàn giao dự kiến trong quý 4/2019. Trong quý 3/2019, Nam Tân Uyên (NTC) đã chuyển 155 tỷ tiền bồi thường đất cho Phước Hòa.

-Vướng mắc hiện tại đến từ việc diện tích cắm mốc chồng lấn với diện tích bàn giao cho ủy ban huyện Tân Uyên.

-Số tiền NTC thanh toán dự tính sẽ được trả thêm 2 lần nữa vào năm 2020 và 2021.

KẾT LUẬN

  • PHR hiện tại là doanh nghiệp sở hữu quỹ đất lớn tại khu vực Bình Dương và hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho doanh nghiệp trong thời gian tới đến từ việc khai thác quỹ đất. Bằng phương pháp đánh giá lại tài sản chúng tôi ước tính giá trị vốn hóa hợp lý của PHR là 10.354 tỷ tương đương với giá trị mỗi cổ phần là 76.400 đồng/cổ phiếu.
29Aug

Đánh Giá MWG 07 Tháng Đầu Năm 2019

by Người điều hành

MWG – Công ty cổ phần Thế giới di động là cổ phiếu đã được Đội ngũ Đầu cơ Tích trữ bắt đầu khuyến nghị từ tháng 06/2019 cho danh mục dài hạn. Cơ sở để chúng tôi lựa chọn có thể chia làm 02 nhóm nguyên nhân :

  1. Động lực tăng trưởng nhanh, chắc chắn trong tương lai. MWG là một trong số ít các doanh nghiệp lớn có thể tăng trưởng kép với tốc độ cao trong vòng 3 -5 năm tới.
  2. Đội ngũ lãnh đạo tài năng, tham vọng, trung thực và có quyết tâm đổi mới để đưa doanh nghiệp trở thành số 01 trong lĩnh vực mình kinh doanh.

Dựa trên 02 nhóm cơ sở này, thông qua báo cáo kinh doanh ra ngày 23.07.2019. Chúng tôi có những cập nhật đánh giá sau:

1. Đánh giá về kết quả kinh doanh và câu chuyện tăng trưởng trong 07 tháng đầu năm

– Phát triển chiều rộng : Tiếp tục mở mới cửa hàng, tuy nhiên có sự phân hóa ở các nhóm ngành.

Mảng điện thoại đã đi vào bão hòa, SSSG ( tăng trưởng doanh thu của các cửa hàng hiện hữu) chỉ khoảng 1%. Doanh nghiệp đã sớm nhận ra thực tế trên và tiến hành chuyển đổi mô hình kinh doanh điện thoại sang điện máy. Số lượng cửa hàng Điện máy xanh mở mới từ đầu năm đến nay là 115 cửa hàng, SSSG duy trì ở mức tương đối cao – 8%.

Điểm nhấn đáng chú ý là tốc độ mở mới của các cửa hàng Bách hóa xanh. Riêng trong tháng 07, số lượng mở mới là 59 cửa hàng, nếu tính từ đầu năm con số này là 254 cửa hàng. Tốc độ bình quân duy trì 1.2 cửa hàng/ 1 ngày.

– Phát triển chiều sâu : Chất lượng tăng trưởng ngày càng được nâng cao và bền vững.

Mảng điện thoại không còn tăng trưởng, thể hiện qua doanh thu chỉ đạt khoảng 20.000 tỉ ( giảm 5%) . Nguyên nhân chính là việc số lượng cửa hàng giảm xuống.

Mảng Điện máy vẫn đang là xương sống doanh thu của MWG khi chiếm 58.6% tương đương 53.000 tỷ đồng. Việc tiếp tục mở mới cửa hàng chiếm lĩnh thị phần cùng với đó là thay đổi bố trí không gian trưng bày ở các cửa hàng cũ giúp doanh nghiệp giữ vững đà tăng trưởng doanh thu trên 20% ở mảng điện máy.

Mảng bách hóa xanh đang bắt đầu bước vào chu kì thành công. Với việc doanh thu mỗi cửa hàng duy trì trên 1.5 tỷ/ 1 tháng thì tháng 07 này là tháng đầu tiên đánh dấu doanh thu mảng này đạt mốc 1.000 tỷ ( sớm hơn 2 tháng so với kì vọng của doanh nghiệp). Bài toán đặt ra cho MWG trong giai đoạn này là phải tối thiểu hóa chi phí cho vận chuyển và hàng hóa hủy tươi sống hủy cuối ngày. Hiện tại 02 chi phí này đang chiếm khoảng 6% doanh thu, con số mà doanh nghiệp hướng tới là dưới 3%.

Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động của MWG vẫn được duy trì trong quý 2/2019

  • Biên Lợi nhuận gộp Quý 2.2019 lên đến 18%. Theo sát MWG, có thể thấy con số Biên LNG tăng khá đều và chắc chắn qua từng năm.
  • Biên Lợi nhuận ròng (Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu thuần) tăng lên trên 4%, là con số cao nhất từ trước đến nay.
  • Các con số khác về chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp đều tăng mạnh so với cùng kỳ. Đây là điều dễ hiểu do MWG đang mở rộng hệ thống.

2. Nhân tố lãnh đạo

Đội ngũ lãnh đạo của MWG hiện nay là sự kết hợp của cả yếu tố kinh nghiệm và sức trẻ. ” Người thuyền trưởng” – Nguyễn Đức Tài đóng vai trò chủ đạo. Điều hành chính mảng Điện thoại và Điện máy là anh Đoàn Văn Hiểu Em, điều hành mảng Bách hóa xanh là ông Trần Kinh Doanh

Khởi dầu chỉ là chuỗi cửa hàng bán diện thoại :  Khi nhận thấy mảng điện thoại có dấu hiệu bão hòa, doanh nghiệp đã huớng tới thị truờng điện máy, sau đó là bán lẻ thực phẩm rộng lớn hơn. Tuy nhiên, cũng có những thất bại khi đầu tư vào mảng thương mại điện tử với trang web vuivui.com nhưng sau đó nhanh chóng đóng cửa và rời xa cuộc chiến ” đốt tiền” với các ông lớn.

Với niềm tin mãnh liệt từ những ngày đầu rằng “Khách hàng là vô cùng quan trọng với sự sống còn của doanh nghiệp” : Toàn thể nhân viên MWG từ Ðội ngũ lãnh đạo đến … bác bảo vệ cửa hàng đều luôn vui vẻ, niềm nở khi đón tiếp khách hàng. Chính giá trị này làm cho Thế giới di dộng trở nên khác biệt, vuợt mặt các chuỗi bán lẻ khác chứ không hề có bất kì một ” bí mật” to tát nào cả.

Thế giới di dộng là doanh nghiệp hiếm hoi trên thị truờng cập nhật liên tục các thông tin đến cổ dông : Hoạt dộng kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận, số luợng… cửa hàng đuợc công bố theo tháng đến nhà đầu tư tại địa chỉ mwg.vn.

Dưới góc độ Nhà đầu tư, Chúng tôi nhận thấy dàn lãnh đạo của MWG đáp ứng được nhiều tiêu chí đánh giá của Fisher : Bộ máy quản lý của công ty có đủ quyết tâm để tiếp tục phát triển các dòng sản phẩm hay những quy trình sản xuất, nhằm gia tăng hơn nữa tổng doanh thu.

TỔNG KẾT : Đầu cơ Tích trữ đánh giá MWG vẫn là lựa chọn sáng giá nhất cho danh mục đầu tư dài hạn. Chúng tôi tiếp tục khuyến nghị MUA với MWG ở vùng giá 115 hiện tại, mục tiêu thận trọng 200.

 

11Aug

Ngài Peter Lynch Và Những Khoản Đầu Tư Ngành Bán Lẻ Mười Gang

by Người điều hành
Ngài Peter Lynch đã đúc kết phương pháp chọn lựa cổ phiếu trong cuộc đời của ông: Không có gì khác ngoài nghệ thuật, khoa học và sự cần cù (art, science & legwork). Nó chưa hề thay đổi suốt 20 năm trong nghề của ông.

Chúng tôi muốn giới thiệu với độc giả một vài những chiếc “túi mười gang” (khoản đầu tư tăng trên 10 lần) của ngài Peter Lynch trong ngành bán lẻ. Ông đã mày mò đi thăm nhiều cửa hàng, nghe ngóng, nghiên cứu trước khi những chuỗi cửa hàng này nổi tiếng toàn thế giới như hiện nay. Các khoản đầu tư của ông cho ta nhiều bài học và tạo ra niềm cảm hứng vô tận rằng: Trong đầu tư, nếu ta chịu khó “lật nhiều viên đá”, thì thành quả sẽ vô cùng xứng đáng!

I. Những ngày đầu ở Fidelity Magellan

Kể về những ngày đầu khi tiếp quản quỹ Fidelity Magellan vào năm 1977, ngài Peter Lynch đã thú nhận rằng lúc ấy thoạt nhìn quỹ ông rất “thê thảm”: Hàng loạt khách hàng rút vốn, quỹ mẹ Fidelity đóng cửa không thu hút người mới nữa, để lại ông với vỏn vẹn 18 triệu USD tài sản ròng và khoản lỗ khấu trừ thuế hơn 50 triệu USD…

Ấy vậy mà ông thấy đó lại là cái may không ngờ! Chẳng ai buồn nhắc đến thị trường chứng khoán (TTCK) Mỹ vang dội một thời nữa. Thành thử hàng loạt các công ty bán lẻ, nhà hàng, dịch vụ nhỏ đang tăng trưởng nhanh, có ban lãnh đạo tuyệt vời, bảng cân đối kế toán ít rủi ro, được bày bán cho ông với giá cả quá hấp dẫn so với tiềm năng của chúng:

Taco Bell:

Với sự ưa thích những công ty dễ hiểu mà ông đã từng trải nghiệm, Taco Bell – chuỗi bán sản phẩm bánh Taco (Mexico) vẫn còn tồn tại đến ngày nay thuộc Yum! Brands – là một trong những chiếc túi 10 gang đầu tiên của Lynch.

Ông kể lại: “Một nhà hàng đã từng thành công ở một vùng sẽ có nhiều khả năng để nhân rộng ra các vùng khác thành công. Tôi đã nhìn thấy Taco Bell mở hàng loạt ở California, sau đó tiến dần về hướng Đông mà vẫn giữ được tăng trưởng lợi nhuận 20-30% mỗi năm”.

Sau giai đoạn thị trường giá xuống năm 1972, Taco Bell giảm mạnh xuống 1 USD/cổ phiếu, bất chấp kết quả kinh doanh của công ty vẫn tốt. Sau đó vài năm, cổ phiếu Taco Bell bật mạnh lên 40 USD khi Pepsi mua lại, giúp ngài Lynch kiếm hàng chục lần số vốn của ông!

Home Depot:

Tương tự như Taco Bell, ngài Peter Lynch đã đi thăm chuỗi cửa hàng bán dụng cụ sửa nhà, nội thất ở thành phố Atlanta tên là Home Depot. Ông cảm thấy vô cùng ấn tượng với dịch vụ khách hàng, sự đa dạng của các mặt hàng như đinh ốc, máy khoan, gạch, đá với giá rẻ, chất lượng và các nhân viên rất am hiểu nhu cầu khách hàng.

Cổ phiếu Home Depot lúc bây giờ (1978) có giá là 25 cents sau khi điều chỉnh chia tách. 15 năm sau, nó có giá 65 USD/cổ phiếu, một chiếc túi “260-gang” khổng lồ nhất mà chính Lynch cũng bỏ lỡ khi ông tự thú rằng mình đã bán nó quá sớm.

Pic “N” Save, Stop & Shop:

Gần chạm năm 1980, Peter Lynch nhận ra nhu cầu sử dụng thực phẩm tiêu dùng lớn của thế hệ Baby Boomers, đang ở độ tuổi thiếu niên. Ông bắt đầu mua vào hàng loạt các cổ phiếu cửa hàng tiện lợi có giá sản phẩm rẻ mạt nhờ họ thu mua chiết khấu, trong đó nổi bật nhất là Pic “N” Save (nhà bán lẻ chiết khấu), Stop & Shop (cửa hàng tiện lợi), Shop & Go (cửa hàng tiện lợi).

Mặc dù đến đầu những năm 2000, các cửa hàng này hầu hết đã đóng cửa do nhu cầu sụt giảm, ngài Peter Lynch đã kiếm lời hàng chục lần khi những cổ phiếu này tăng mạnh vào thập niên 1980.

Dunkin’ Donuts:

Dunkin’ Donuts, chuỗi bánh rán nhúng sữa chuyên bán đồ ăn sáng hoặc ăn nhẹ tối, là một trong những chuỗi nhà hàng thành công nhất mà ngài Peter Lynch thường tự hào mỗi khi nhắc về.

Trong khi chuỗi này vẫn còn là một ẩn số với phố Wall, thậm chí có cái tên nghe thật nực cười (!), ngài Peter Lynch đã ưa thích cà phê và các món ăn sáng của chuỗi này kể từ lúc nó mới mở 8 cửa hàng gần nhà ông, và bắt đầu mua vào mạnh mẽ cho quỹ Fidelity Magellan kể từ khi tiếp quản.

Ngành nghề đơn giản, sản phẩm đa dạng, độc đáo, ngon miệng, ít đối thủ cạnh tranh và khả năng phủ rộng thương hiệu đã giúp cổ phiếu Dunkin’ Donuts tăng giá 25 lần kể từ khi niêm yết vào năm 1977 đến 1986.

Sau này khi liệt kê lại 50 khoản đầu tư đã góp phần giúp quỹ Fidelity Magellan của ông kiếm hàng tỷ USD, trong đó ông luôn tự hào kể về cổ phiếu “bánh rán nhúng sữa” có cái tên nực cười này đã tăng “bằng lần” như thế nào!

II. Những công ty dịch vụ bán lẻ “tuyệt vời”

Vào giai đoạn giữa thời kỳ sự nghiệp (1980-1987), ngài Peter Lynch bắt đầu chuyển sang các công ty tài chính, công ty chu kỳ như ô tô nhiều hơn.

Song, trong giai đoạn này, ông vẫn luôn tích cực tích lũy thêm khá nhiều các công ty dịch vụ bán lẻ thị trường ngách với ngành nghề độc đáo, vốn hóa nhỏ, ít người chú ý đến, song lại là những “chiếc túi mười gang” tuyệt vời:

Service Corporation International (SCI):

Lần đầu khi nghe đến cái tên “Service Corporation International” chán ngắt từ một người bạn chuyên viên phân tích chung quỹ Fidelity, ngài Peter Lynch đã vô cùng hào hứng vì ông biết rằng nếu có một lĩnh vực mà phố Wall tẩy chay, thì không có lĩnh vực nào bằng ngành nghề kinh doanh “cái chết” đầy tang thương…

Trong rất nhiều năm trước đó, SCI đã đi mua các khu đất nghĩa trang với giá rẻ mạt từ những gia đình địa phương khắp quốc gia. Họ sở hữu gần 500 văn phòng dịch vụ tang lễ, 120 nghĩa trang, 70 cửa hàng hoa, và hàng loạt các cơ sở sản xuất đồ dùng tang lễ.

Tuy nhiên, điều mà Lynch thích nhất chính là mô hình tạo tiền rất tốt của công ty này. Họ thực hiện bán các khoản đặt chỗ trước nếu khách hàng muốn lo trước cho cái chết của họ hay người thân. Cho đến năm 1986, khi hàng loạt các phân tích bắt đầu quan tâm đến SCI, cổ phiếu này đã tăng hơn 20 lần, trở thành một trong những khoản thành công nhất của quỹ Fidelity Magellan.

La Quinta Motor Inn:

Ý tưởng đầu tư chuỗi nhà nghỉ La Quinta đến với Peter Lynch, cũng tình cờ mà lại mang tính “nghệ thuật” vô cùng. Trong quá trình trao đổi với giám đốc của chuỗi nhà nghỉ United Inn cạnh tranh, Peter Lynch chợt nghe vị giám đốc của chuỗi này khen đối thủ La Quinta từ Texas rằng “họ rất tuyệt, họ đã đánh bại chúng tôi ở Houston & Dallas!”.

Sau đó, ngài Lynch lập tức vào nghỉ thử 3 lần ở các phòng của La Quinta, và ông biết rằng hãng này sẽ thắng lớn vì thị trường đang rất thiếu một phòng nghỉ vừa chất lượng vừa có giá rẻ. Ông phát hiện rằng thay vì đầu tư vào nhà hàng, hồ bơi tốn kém, ban lãnh đạo La Quinta chọn vị trí gần trung tâm, tiện ích và xây chuỗi nhà nghỉ với số lượng phòng nhỏ nhưng đạt kế hoạch phủ rộng. Nhờ đó, giá phòng của họ luôn thấp hơn đối thủ 30%.

Ông tiến hành mua rất mạnh cổ phiếu La Quinta, bất chấp một thành viên HĐQT bán ra. Sau đó vài năm, khoản này đã tăng lên 10-15 lần.

Các chuỗi nhà hàng mà ông bỏ lỡ:

Đối với mảng nhà hàng, sau nhiều năm kinh nghiệm, ngài Lynch đã đúc kết rằng một chuỗi nhà hàng thành công, phải tăng trưởng và mở rộng qua một thời gian dài! Những chuỗi cố gắng mở quá nhanh trong thời gian ngắn (chắng hạn như 100 cửa hàng/năm trở lên), đặc biệt bằng vốn vay, sẽ tự đưa họ vào “thòng lọng”.

Ông ưa thích con số tăng trưởng “same-store sales” hàng quý, một bảng cân đối kế toán không vay nợ, và tốc độ mở cửa hàng không quá nóng. Đến nay, ông vẫn tiếc nuối vì bản thân không sinh ra sớm hơn vào giai đoạn những năm 1960 để mua cổ phiếu của các chuỗi nhà hàng tuyệt vời như KFC, Pizza Hut, Dairy Queen, Wendy’s hay Mc-Donald’s. Những chuỗi này đã tăng hàng ngàn lần vốn hóa kể từ khi IPO (phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng).

III. Các khoản bán lẻ mà ông sai lầm

Sau giai đoạn nghỉ hưu ở quỹ Magellan (những năm 1990), dù là một huyền thoại trong việc đầu tư mảng bán lẻ, ngài Peter Lynch cũng thừa nhận sai lầm ở một vài khoản đầu tư do quá lạc quan – một điều rất bình thường trên TTCK:

General Host, Sunbelt, Calloway’s:

Vì đánh giá thấp sức mạnh cạnh tranh của Home Depot, ông đã mua vào các hãng dụng cụ làm vườn như General Host, Sunbelt, Calloway’s. Lượng khách vì giá rẻ đã tìm đến Home Depot, dẫn đến 3 hãng này đều sụt giảm mạnh về lợi nhuận, cổ phiếu giảm hơn 30-50%.

The Body Shop:

Tự tin rằng chuỗi bán các mỹ phẩm chăm sóc da Body Shop của Anh sẽ tăng trưởng 30% CAGR, ông sẵn sàng trả P/E 40 lần cho hãng này, rồi sau đó hối hận vì không kiên nhẫn chờ đợi hơn. Ông đã vi phạm chính nguyên tắc PEG ratio của bản thân. Cổ phiếu Body Shop giảm hơn 50% còn 20 lần P/E, trong khi lợi nhuận tăng trưởng chậm. Tuy nhiên, nếu kiên nhẫn, sau này một thập kỷ, hãng mỹ phẩm L’Oreal đã mua lại chuỗi này với giá rất cao.

Super-Cuts:

Khoản đầu tư vào chuỗi cắt tóc Super-Cuts là một sai lầm khác của ngài Lynch. Mặc dù không ưa thích dịch vụ của công ty này (một lá cờ đỏ đầu tiên), ông vẫn mua cổ phiếu vì ấn tượng với mô hình kinh doanh sinh lợi cao của nó. Song sau đó vài năm, Super-Cuts đã mở rộng quá nhanh và thua lỗ, không đem lại mức sinh lời thỏa đáng.

IV. Kết luận

Nếu quý độc giả tinh ý, sẽ thấy rằng trước khi mua một cổ phiếu bán lẻ nào, ngài Peter Lynch đều biến bản thân thành khách hàng và nghiên cứu sản phẩm của công ty đó nhiệt thành! Nếu ông ưa thích chuỗi bán lẻ như một khách hàng một cách không thiên vị, và công ty này ít nợ vay, tăng trưởng đều đặn, ông sẽ đầu tư và nắm giữ dài hạn.

Dù có một số quan điểm phản biện rằng do ngài Peter Lynch khá may mắn khi ông tiếp quản quỹ vào giai đoạn suy thoái những năm 1970 với hàng loạt các cổ phiếu rẻ mạt. Ngoài ra, các hãng bán lẻ cũng tăng trưởng rất nhanh do phù hợp với tháp dân số Baby Boomers của Mỹ (đến nay họ đã đóng cửa gần hết!), song chúng tôi cho rằng việc ông thành công thực sự có sự góp phần của may mắn, nhưng phần lớn vẫn là sự cần cù, chăm chỉ nghiên cứu, khảo sát và đức kiên nhẫn nắm giữ qua nhiều năm của ông (*)

Đó là đức tính mà những nhà đầu tư cá nhân nóng vội nhất thiết phải học hỏi vậy!

* (Lược dịch, trích dẫn và bình luận thêm từ cuốn Beating the Street, 1993, của ngài Peter Lynch)

9Aug

Bí Quyết: Lựa Chọn Doanh Nghiệp Có Lợi Thế Cạnh Tranh Bền Vững

by Người điều hành
Một trong những nguyên tắc quan trọng giúp Warrent Buffet thành công khi đầu tư mà ông đặt ra là việc đầu tư vào các doanh nghiệp có lợi thế kinh doanh bền vững và dài hạn. Trong cuốn sách bán rất chạy nhiều năm qua là Nguyên tắc số 1 của Phil Town cũng đề cập rất nhiều tới lợi thế cạnh tranh bởi ông coi đây là thành lũy để ngăn chặn sự xâm chiếm của các doanh nghiệp khác và tạo ra các hiệu quả vượt trội về kinh doanh cũng như đem lại cơ hội kiếm lợi nhuận dài hạn cho các nhà đầu tư sở hữu nó. Vậy đâu là những đặc điểm của một doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững? Qua nghiên cứu chúng tôi nhận diện dựa trên 2 góc độ để tìm ra các doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững: ĐỊNH TÍNHĐỊNH LƯỢNG
 
A- Định Tính
 
1. Doanh nghiệp sở hữu các tài sản vô hình có giá trị: Các tài sản vô hình bao gồm Nhãn hiệu, bằng sáng chế, hoặc giấy phép của chính phủ, những thứ này đã in sâu vào tâm trí người dùng, khẳng định uy tín của doanh nghiệp và góp phần giảm bớt sự cạnh tranh từ các đối thủ đặc biệt là trong các ngành nghề mà rào cản gia nhập ngành được quy định khá chặt chẽ.
 
Ví dụ: StarBucks có thể bán giá cao hơn 25%-35% so với các đối thủ khác ở Việt Nam; Các sản phẩm bất động sản của Vinhomes có thể bán giá cao hơn 20%-30% so với các đối thủ và dễ dàng bán được khi đã có sự tin tưởng của người dùng so với các chủ đầu tư khác, những hãng thời trang uy tín hay những thương hiệu đồng hồ nổi tiếng, hãng xe cao cấp vẫn luôn được người mua chào đón dù giá của chúng rất đắt đỏ v.v..
 
2. Lợi thế về chi phí thấp: Những công ty có khả năng cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ với giá vốn thấp hơn có lợi thế lớn vì họ có thể giết chết đối thủ bằng giá bán. Mặt khác, họ có thể bán sản phẩm hoặc dịch vụ của mình tại mức giá tương đương đối thủ, nhưng đạt được biên lợi nhuận cao hơn. Lợi thế nhờ quy mô lớn là lợi thế về chi phí thấp tiêu biểu.
Ví dụ: HPG có quy mô sản xuất lớn, công nghệ hiện đại, khả năng triển khai dự án nhanh và tiết kiệm nên giá vốn thấp hơn của các đối thủ khác tại Việt Nam lên đến 12%, giai đoạn 2016-2018 biên lợi nhuận gộp của HPG là 20-24% trong khi đối thủ chỉ là 8-12%; VNM biên lợi nhuận gộp rất cao 45% so với dưới 25% của đối thủ nhờ vào chi phí sản xuất thấp khi hiện đại hóa công nghệ và quy mô sản xuất lớn; MWG có biên lợi nhuận cao hơn các đối thủ khác nhờ nhập hàng với số lượng lớn hơn hàng chục lần những đối thủ phía sau; Walmart cũng nhập hàng với số lượng rất lớn nên có giá vốn thấp hơn rất nhiều so với các đối thủ khác ở Mỹ.
 
3. Rào cản chi phí chuyển đổi: Là những bất tiện, rủi ro lớn hoặc chi phí mà khách hàng phải bỏ ra 1 lần để thay đổi từ sản phẩm này sang sản phẩm khác. Khách hàng phải đối mặt với chi phí chuyển đổi cao thường không thay đổi nhà cung cấp trừ phi những nhà cung cấp mới mang lại lợi ích lớn hơn nhiều cho họ và lâu dài so với chi phí chuyển đổi đó.
Vi dụ: Trong lĩnh vực phần mềm, nếu chuyển đối khách hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ gián đoạn trong vận hành hệ thống của mình khi đang dùng các sản phẩm của: Oracle, Adobe, Microsoft …
 
4. Giá trị cộng hưởng: Điều này xảy ra khi giạ trị của một hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể làm tăng lợi ích cho cả người dùng mới và người dùng hiện tại khi có nhiều người sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ đó, nhiều tiện ích trong hệ sinh thái của doanh nghiệp xây dựng được thường tạo ra một vòng tròn trực quan cho phép các doanh nghiệp ngày càng mạnh hơn.
 
Ví dụ: Mạng xã hội Facebook khi có nhiều người xử dụng hơn thì những người dùng sẽ được tương tác và kết nối nhiều hơn, giúp họ thỏa mãn hơn, mặt khác Facebook sẽ bán được nhiều quảng cáo hơn với giá cao hơn; YEG cũng tương tự vậy. Khi bạn mua nhà của VinGroup bạn sẽ có xu hướng sử dụng các dịch vụ khác của VinGroup như bệnh viện, trường học, khu thương mại, khu nghỉ dưỡng v.v…
 
5. Hiệu quả nhờ quy mô: xảy ra khi một ngành hoặc một thị trường mà ở đó giới hạn phải đạt được một quy mô nhất định mới có lợi nhuận và khi có một hoặc một vài doanh nghiệp đạt được rồi và chiếm lĩnh thị trường ở mặt vật lý thì không còn nhiều miếng bánh cho doanh nghiệp đến sau.
 
Ví dụ: Ngành cấp nước, khi các doanh nghiệp xây dựng xong hệ thống cấp nước cho người tiêu dùng thì sẽ không còn cơ hội cho người khác tham gia cùng khai thác về mặt địa lý với các KH hiện tại được (VAV, VCW, TDM, BWE); Ngành đường sắt khi các doanh nghiệp đi trước đã đầu tư xây dựng đường ray vận chuyển khách hàng và hàng hóa thì sẽ không có chỗ cho 1 doanh nghiệp khác làm một đường ray tương tự; hệ thống điện ở Việt nam cũng tương tự. Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã xây dựng được các vị trí bán lẻ đắc địa, thuận lợi cho người dùng như PLX khiến cho các doanh nghiệp đi sau khó có cơ hội đe dọa vị thế của họ
 
B. Định Lượng
 
1. Biên lợi nhuận gộp: Được tính bằng (doanh thu – giá vốn hàng bán)/doanh thu, chỉ số này cao cho biết doanh nghiệp doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh đặc biệt, bởi vì phần lớn doanh nghiệp chỉ có được biên lợi nhuận gộp cao khi có một hoặc hơn một đặc điểm sau: a. Có sức mạnh với khách hàng do đó bán được giá cao hơn đối thủ cạnh tranh; b. Có sức mạnh đàm phán với nhà cung cấp hoặc công nghệ hiện đại để đạt chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, có những doanh nghiệp làm được điều này mặc dù không có lợi thế cạnh tranh khi doanh nghiệp có quan hệ “sân sau” nhờ con đường chính trị hoặc may mắn mua được đầu vào giá thấp, các khu đất được bán giá rẻ v.v… trong giai đoạn nào đó nhưng rõ ràng đó không phải là lợi thế cạnh tranh bền vững.
 
Ví dụ: Biên lợi nhuận gộp của VNM luôn ở mức 40%-50% cao hơn rất nhiều so với đối thủ cạnh tranh; HPG có biến lợi nhuận gộp thường cao hơn đối thủ khoảng 10%-12%; VCW có biên lợi nhuận khoảng 50%-55% cao hơn nhiều khi so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành.
 
2. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): Lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp phải phát huy được tác dụng và chỉ thực sự làm giàu cho nhà đầu tư khi và chỉ khi thể hiện được hiệu quả sinh lời trên đồng vốn đầu tư hoặc vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đó đạt mức cao hơn thông thường. Qua nghiên cứu hàng trăm doanh nghiệp có lợi thế bền vững chúng tối nhận thấy rằng họ thường có ROI và ROE cao hơn tối thiểu gấp 3 lần lãi suất ngân hàng ở cùng thời kỳ đó, cá biệt có những doanh nghiệp suất xắc mà lợi suất lên đến 50%-70% duy trì trong nhiều năm.
 
Trên đây là các tiêu chí mà chúng tôi hướng dẫn để tìm kiếm các doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh mạnh và bền vững và chúng tôi mong muốn chia sẻ góc nhìn của mình tới các nhà đầu tư. Tất nhiên, khi các nhà đầu tư cùng nhìn ra các doanh nghiệp dạng này thì giá của chúng không còn rẻ nữa và hơn nữa việc tăng giảm trong ngắn hạn của giá cổ phiếu đôi khi không liên quan tới lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
 
Tuy nhiên, trong dài hạn chúng tôi đánh giá các doanh nghiệp dạng này là các “cổ phiếu vàng” và thường đem lại các tỷ suất sinh lời vượt trội cho các nhà đầu tư mua và nắm giữ dài hạn như các case kinh điển trong nhiều năm qua của VNM; PNJ; MWG; HPG; FPT; VIC…..và chúng tôi thích câu nói của ngài Warrant Buffet “Sẽ là khôn ngoan hơn nhiều nếu mua được một công ty tuyệt vời với mức giá vừa phải, hơn là mua một công ty vừa phải với một mức giá tuyệt vời.”