0914 699 604

LOADING...
7Oct

Báo cáo chuyên đề bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020

by Người điều hành

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2020 đang vào giai đoạn nước rút khi chỉ còn chưa đầy một tháng nữa tới ngày bầu cử 03/11. Hãy cùng Đầu cơ Tích trữ điểm qua một vài vấn đề nổi bật của sự kiện không chỉ ảnh hưởng đến nước Mỹ mà còn ảnh hưởng đến tình hình kinh tế toàn cầu

Read More
9Sep

Báo cáo kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 08/2020

by Người điều hành

1. Hoạt động kinh tế

1.1 Hoạt động thương mại

– Tính chung 8 tháng đầu năm, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu đạt 174,1 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu đạt 162,2 tỷ USD, giảm 2,2% so với cùng kỳ. Cán cân thương mại thặng dư kỷ lục 11,9 tỷ USD

1.2 Sản xuất công nghiệp

– Chỉ số sản xuất công nghiệp trong tháng 8 tăng 3,5% so với tháng truớc và giảm 0,6% so với cùng kỳ. PMI sản xuất của Việt Nam giảm tháng thứ 2 liên tiếp về mức 45,7 điểm khi sản luợng sản xuất và số luợng đơn hàng xuất khẩu đều giảm

1.3 Tiêu dùng

– Cục Hàng Không đề xuất nối lại 6 chuyến bay quốc tế đi Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ðài Loan, Lào, Campuchia từ ngày 15/09 sẽ là yếu tố tích cực cho kinh tế Việt Nam.

2. Chính sách

Chính phủ tăng cường chi tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế : 8 tháng đầu năm chi đầu tư phát triển tăng 44.4% so với cùng kì, đạt 209 nghìn tỷ đồng.

3. Lạm phát

Lạm phát tháng 8 tăng 3,18% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 0,07% so với tháng truớc. Từ nay đến cuối năm, hiệu ứng giảm phát do giá thịt lợn điều chỉnh giảm sẽ trung hoà tác động lên lạm phát do giá dầu tăng.

4. Tỷ giá

Tỷ giá VND/USD duy trì đà ổn dịnh trong 5 tháng liên tiếp

7Sep

Đánh Giá VHC – DN Xuất Khẩu Cá Tra Số 01 Thế Giới

by Người điều hành

1. Tổng quan doanh nghiệp

– Tên : Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn    

1.1 Quá trình hoạt động :

Ngày 27/12/1997, doanh nghiệp tư nhân Vĩnh Hoàn được thành lập tại tỉnh Đồng Tháp với vốn điều lệ là 300 tỷ đồng, khởi đầu là một xưởng nhỏ được thuê lại để chế biến thủy sản các loại. Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển bền vững trong lĩnh vực nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu cá tra, VHC không ngừng vươn lên và giữ vững thị phần là doanh nghiệp dẫn đầu trong mảng xuất khẩu cá tra tại Việt Nam từ những năm 2010 cho đến nay.

Kết quả kinh doanh và quá trình tăng vốn chủ sở hữu của VHC

1.2 Lĩnh vực kinh doanh : VHC hoạt động kinh doanh trong 04 lĩnh vực chính :

• Nuôi trồng thủy sản nội địa;

• Chế biến, bảo quản và xuất khẩu các sản phẩm từ thủy sản;

• Sản xuất bột cá; Sản xuất dầu mỡ, động thực vật;

• Chiết xuất và sản xuất gelatin, collagen thủy phân;

1.3 Cấu trúc doanh nghiệp :

VHC hiện tại có 05 công ty con và đều hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến thủy sản :

Trong đó :

  • Công ty TNHH Thanh Bình Đồng Tháp : Chế biến ca tra fillet đông lạnh xuất khẩu
  • Công ty TNHH Vĩnh Phước : Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản
  • Công ty TNHH Vĩnh Hoàn 4 : Chưa đi vào hoạt động
  • Công ty TNHH Vĩnh Hoàn Collagen : Chế xuất, sản xuất Collagen và Gelatin
  • Cong ty TNHH Sản xuất giống cá tra Vĩnh Hoàn : Nuôi trồng giống cá tra

1.4 Các sản phẩm kinh doanh chính :

1.5 Cơ cấu doanh thu năm 2019 : Chủ yếu đến từ mảng xuất khẩu cá tra fillet.

1.6 Ban lãnh đạo và cơ cấu cổ đông

Bà : TRƯƠNG THỊ LỆ KHANH

Chức vụ : Chủ tịch HĐQT

Năm 1997, bà là người sáng lập và dẫn dắt Vĩnh Hoàn phát triển từ một cơ sở chế biến nhỏ trở thành một công ty nuôi và chế biến cá tra lớn nhất thế giới hiện nay.

 Đầu tàu dẫn dắt doanh nghiệp từ những ngày đầu tiên – Đây là những lãnh đạo chúng tôi đánh giá cao nhất vì trải qua rất nhiều khó khăn, tài năng của họ đã được kiểm chứng. Ngoài ra đây còn là những người am hiểu tận tường doanh nghiệp nhất.

– Cơ cấu cổ đông của VHC khá cô đặc : Chủ yếu là ban lãnh đạo và các tổ chức lớn. Điều này đảm bảo lợi ích cho các cổ động nhỏ lẻ

Bà Trương Thị Lệ Khanh sở hữu 43.5%Mitsubishi Corporation : 6.6% – Tập đoàn thương mại lớn nhất Nhật Bản. Tập đoàn này vừa là khách hàng của VHC tại thị trường Anh và Nhật BảnCác cổ đông nước ngoài khác : 32.54% ( Norgres Bank …)Các tổ chức, cá nhân trong nước : 17.36%  

2. Tổng quan ngành cá tra Việt Nam

2.1 Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu cá tra số 01 thế giới

Cá tra là loài cá bản địa của sông Mê kông, do đó Việt Nam là quốc gia có lợi thế tuyệt đối về điều kiện nuôi trồng và chất lượng thịt cá.

2.2 Hiện nay vùng nuôi cá tra tập trung chủ yếu ở lưu vực đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn cung cá tra trước đây thường không ổn định do những nguyên nhân sau :

• Chuỗi liên kết giữa người dân và doanh nghiệp còn chưa chặt chẽ, vùng nuôi chủ yếu là tự phát và theo cung cầu

• Nhu cầu tiêu thụ cá tra tại các thị trường xuất khẩu biến động lớn, dẫn đến tình trạng thiếu, dư thừa nguồn cung, ảnh hưởng đến giá cá tra

• Tình hình tự nhiên, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến vùng nuôi cá tra

2.3 Dự báo nguồn cung cá tra sẽ tương đối ổn định trong thời gian tới

Theo thống kê của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, năm 2019, tổng diện tích nuôi cá tra của cả nước là 6.600 ha (+22% yoy), với sản lượng thu hoạch khoảng 1,42 triệu tấn:

• Theo quy hoạch, các tỉnh trọng điểm ĐBSCL sẽ không mở rộng diện tích nuôi trồng mới mà tập trung vào việc đổi mới dây chuyền, công nghệ sản xuất của các nhà máy theo hướng hiện đại, nhằm gia tăng năng suất, nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu và mang lại giá trị gia tăng cao.

• Tỉ lệ tự chủ nguồn nuôi của doanh nghiệp ngày càng tăng, hiện nay có khoảng 60- 70% sản lượng cá tra trên thị trường đến từ vùng nuôi riêng của các doanh nghiệp. Việc chủ động triển khai vùng nuôi riêng nhằm khép kín chuỗi giá trị, hạn chế ảnh hưởng từ bên ngoài, cũng như quản lý chất lượng đầu vào và công tác truy xuất nguồn gốc được thuận tiện và hiệu quả hơn.

2.4 Diễn biến giá cá tra biến động mạnh trong thời gian vừa qua và được dự báo là sẽ hồi phục trong thời gian tới

Trong giai đoạn 2015-2018, giá cá tra nguyên liệu biến động theo xu hướng tăng, do nhu cầu tiêu thụ tích cực tại các thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2019, giá cá tra nguyên liệu trên thị trường bắt đầu giảm mạnh. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm này là do (1) nguồn cung cá tra đột ngột tăng mạnh khi nông dân ồ ạt mở rộng diện tích nuôi (2) nhu cầu tiêu thụ trong giai đoạn này tại các thị trường xuất khẩu giảm, hàng tồn kho ở mức cao.Giá cá tra hiện tại dao động quanh vùng từ 18.000 – 20.000 /kg tùy vào trọng lượng cá. Đây là mức giá thấp nhất trong lịch sử và người nuôi đang gánh lỗ khoảng 2.500 – 4.500 /kg.  

Chu kì giá cá tra thông thường sẽ diễn ra trong khoảng thời gian từ 02 – 03 năm. Hiện tại đang là vùng giá thấp nhất trong lịch sử và là khoảng thời gian cuối của chu kì giảm giá.

2.5 Nhu cầu tiêu thụ cá thịt trắng nói chung và cá tra nói riêng đang gia tăng

Hiện tại nhu cầu của người tiêu dùng ở các nước xuất khẩu vẫn đang là cá thịt đỏ ( cá hồi cá ngừ…), tuy nhiên xu hướng đang dịch chuyển dần sang cá thịt trắng ( cá rô phi, cá tra..) do những vấn đề liên quan đến sức khỏe.Do đó, so với các loài thịt trắng ở phân khúc này, cá tra có vị thế cạnh tranh tương đối thấp, nhu cầu tiêu thụ phụ thuộc hoàn toàn vào khẩu vị và sự lựa chọn của người tiêu dùng.

Nhu cầu cá tra được dự báo sẽ tăng trưởng khoảng 4% trong thời gian từ 2020 – 2024

2.6 EVFTA có tác động tích cực đến ngành cá tra trong dài hạn

Thị trường EU là thị trường lớn thứ 03 của xuất khẩu cá tra Việt Nam với thị phần 11%. Bắt đầu từ ngày 01/08/2020, toàn bộ thuế suất của cá tra Việt Nam đã được hạ về mức 0%, đây là một lợi thế cạnh tranh rất lớn so với các đối thủ khác. Điều này được dự báo giúp tăng trưởng sản lượng tiêu thụ cá tra tại thị trường EU

3. Luận điểm đầu tư


– VHC xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh là một chuỗi giá trị khép kín, từ khâu sản xuất giống, nuôi cá tra nguyên liệu cho đến khâu chế biến cá tra, các sản phẩm phụ từ cá tra và xuất khẩu tại các thị trường. Nhờ lợi thế của việc khép kín chuỗi giá trị, VHC có thể kiểm soát gần như toàn bộ quá trình sản xuất, do đó vừa đảm bảo cho công tác theo dõi, quản lý chất lượng vừa thuận tiện cho hoạt động truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng tiêu chuẩn tại các thị trường xuất khẩu.

3.1 VHC là công ty xuất khẩu cá tra số 01 Việt Nam

– VHC luôn đứng vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng những công ty xuất khẩu cá tra lớn nhất VN trong 10 năm trở lại đây, trong khi đó có sự biến động lớn trong top 4 doanh nghiệp còn lại.

– Thị trường Mỹ là thị trường xuất khẩu chủ lực của VHC – đây được đánh giá là thị trường khó tính nhất với những quy định khắt khe về chất lượng thịt cá.

3.2. Đầu vào – Trong năm 2020, dự kiến VHC tự chủ khoảng 60% – 65% nguồn cá tra nguyên liệu

Hiện nay, chi phí nguyên liệu là chi phí chính trong sản xuất kinh doanh của VHC : Việc tự chủ con giống sẽ là yếu tố then chốt cho tính cạnh tranh về chất lượng, hiệu quả cho VHC, 200 ha dự án công nghệ cao đã được đưa vào hoạt độngChi phí sản xuất có xu hướng giảm do quy trình khép kín mang lại hiệu quả cao từ khâu con giống, thức ăn đến kiểm soát dịch bệnh tốtVùng nuôi của VHC được chia rông trên nhiều tỉnh, khu vực khác nhau giúp giảm thiểu rủi ro thời tiết và dịch bệnh, Chủ yếu nằm ở các khu vực Đồng Tháp, Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An  

– Việc tự chủ khoảng 2/3 nguồn nguyên liệu cá tra mang lại cho VHC rất nhiều lợi thế giúp giảm thiểu rủi ro :

• Với việc giá cá tra đã giảm mạnh từ năm 2018, hiện tại với mỗi kg cá tra, người nuôi đang chịu lỗ khoảng 4.000. Do đó VHC hoàn toàn có thể đẩy mạnh việc thu mua bên ngoài để giảm chi phí, đồng thời giảm gánh nặng chịu lỗ của mảng nuôi trồng.

• Khi giá cá tra hồi phục, VHC cũng có thể mở rộng thêm nguồn nuôi để gia tăng tỉ lệ tự chủ nguồn nguyên vật liệu, tận dụng được lợi thế giá cá cao.

3.3 Sản xuất – Tiếp tục nâng cấp, mở rộng nhà máy nhằm tận dụng tối đa giá trị từ cá tra

– Hệ thống nhà máy chế biến cá tra của VHC hiện đã đáp ứng được nhu cầu kinh doanh.

– Đáng chú ý , VHC bắt đầu xây dựng nhà máy sản xuất Colagen và Gelatin với công suất 3.500 tấn/năm – gấp 1.5 lần sản lượng hiện tại, dự kiến nhà máy này sẽ hoàn thành vào cuối Quý 3/2020.

3.4 Đầu ra – Sở hữu lợi thế cạnh tranh tuyệt vời tại thị trường Mỹ

– Thị trường Mỹ (năm 2019, chiếm khoảng 47% tổng giá trị xuất khẩu): Là đơn vị xuất khẩu cá tra duy nhất tại Việt Nam đáp ứng được đầy đủ tất cả các yêu cầu về chất lượng và nguồn gốc xuất xứ của cá tra nên được hưởng mức thuế CBPG 0 USD/kg, giúp VHC sở hữu lợi thế lớn tại thị trường này.

– Giá bán cá tra hiện nay tại Mỹ thường cao gấp 1.5 – 2 lần sao với các thị trường châu Âu và Trung Quốc.

– VHC có mạng lưới khách hàng lâu năm tại Mỹ

– Đối thủ chính của VHC là cá rô phi Trung Quốc đang bị đánh thuế cao do những căng thẳng xung đột giữa 02 nước.

3.5 Mảng Collagen và Gelatin – sản phẩm mang lại giá trị gia tăng cao từ cá tra được kì vọng sẽ là động lực tăng trưởng chính của VHC trong tương lai

Trước đây, phần còn lại từ cá tra chủ yếu chế biến các sản phẩm giá trị gia tăng thấp, VHC là doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam áp dụng công nghệ sản xuất Collagen và Gelatin từ da cá tra. Đây là các sản phẩm có tính ứng dụng cao trong các ngành dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm,…Năm 2015, dây chuyền chế biến Collagen và Gelatin của VHC chính thức đi vào hoạt động, với công suất thiết kế tổng cộng 2.000 tấn thành phẩm/năm (Collagen: 1.000 tấn thành phẩm/năm, Gelatin: 1.000 tấn thành phẩm/năm). Năm 2019, mảng này mang lại 220 tỷ LNST cho VHC – gần bằng LNST của một công ty thủy sản TOP 4  

– Mảng Collagen và Gelatin tuy ra đời muộn nhưng ngày càng chứng tỏ được tầm quan trọng trong việc đóng góp và tỉ lệ tăng trưởng chung của doanh nghiệp

– Việc mở rộng nhà máy Collagen và Gelatin từ Quý 3/2020 sẽ là chìa khóa thúc đẩy tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận của VHC bắt đầu từ năm 2021.

3.6 VHC là doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh nhất ngành

– Về cơ cấu tài sản : VHC có tỉ lệ khoản phải thu cũng như tỉ lệ nợ vay tương đối thấp – đây chính la rủi ro lớn nhất đối với các doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và thủy sản nói riêng

– Doanh thu và Lợi nhuận gộp luôn duy trì ở mức cao so với các doanh nghiệp khác trong ngành

3. Định giá khuyến nghị

3.1 Tổng kết

– VHC là doanh nghiệp đầu ngành thủy sản Việt Nam với thương hiệu mạnh, chất lượng cao

– Collagen và Gelatin là nhân tố đặc biệt giúp VHC là doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành.

– Kết quả kinh doanh của VHC sẽ dần hồi phục từ cuối năm 2020 nhờ vào nhu cầu của thị trường tăng trở lại và giá có sẽ phục hồi từ vùng đáy

3.2 Kết quả kinh doanh 06 tháng đầu năm 2020

Doanh thu thuần 06 tháng đầu năm đạt 3.308 tỷ đồng, LNST đạt 368 tỷ đồng – tương ứng mức giảm -13% và -49%. Doanh thu sụt giảm ở 02 mảng Cá tra xuất khẩu và phụ phẩm, trong khi đó mảng Collagen và Gelatin ghi nhận mức tăng +24% so với cùng kì.

Về thị trường, thị trường Mỹ ghi nhận mức giảm mạnh khi trong Quý 2 tiến hành giãn cách xã hôi, thị trường Trung Quốc sau Quý 1 giảm mạnh đã phục hồi trở lại trong Quý 2.

3.3 Dự phóng KQKD năm 2020

Năm 2020, là điểm trũng KQKD của VHC, tuy nhiên tín hiệu tăng trưởng mạnh sẽ bắt đầu đến từ năm 2021

DỰ PHÓNG KẾT QUẢ KINH DOANH CỦA VHC
Đơn vị : Tỉ đồng2018201920202021
Doanh thu thuần9271786777809850
Tăng trưởng-15%-1%27%
Lợi nhuận gộp2039153314001970
Biên lợi nhuận gộp22%19%18%20%
Lợi nhuận trước thuế168813099501430
Lợi nhuận sau thuế144211808801200
Tăng trưởng-18%-25%36%

3.4 Rủi ro

– Biến động ngành cao

– Thay đổi bất lợi trong chính sách nhập khẩu và thuế quan ở các nước nhập khẩu – đặc biệt là thị trường Mỹ

– Biến động bất ngờ của đồng ngoại tệ tại các nước nhập khẩu (Tỉ giá)

– Thời tiết và biến đổi khí hậu

3.5 Định giá

Do VHC là doanh nghiệp có tính chu kì, chúng tôi áp dụng 02 phương pháp định giá là P/B và Định giá từng phần

– Hiện tại VHC đang giao dịch với mức P/B 1.37 lần, thấp hơn mức trung bình quanh mức 1.5 lần .

Với Book Value hiện tại  là 29.000 => Định giá hợp lý cho VHC theo phương pháp P/B= 29.000*1.5 = 43.500 /CP

– Với phương pháp định giá từng phần, với LNST bắt đầu tăng trưởng mạnh từ năm 2021, Chúng tôi định giá thận trọng mảng Cá tra của VHC là 30.000 /CP , mảng Collagen và Gelatin là 21.000/CP.

Giá trị nội tại hợp lý của VHC khoảng 51.0000 /CP

Kết hợp cả 02 phương pháp, mức giá mục tiêu của chúng tôi cho VHC là 47.250 /CP

19Aug

Cập Nhật KQKD PNJ Quý 02-2020

by Người điều hành

Ngành hàng bán lẻ nói chung và bán lẻ Vàng bạc trang sức nói riêng đã chịu ảnh hưởng rất nặng nề từ việc thực hiện giãn cách xã hội trong tháng 04/2020. Mặc dù sự phục hội đã đến từ 02 tháng sau đó, PNJ vẫn ghi nhận một Quý kinh doanh với doanh thu và lợi nhuận thấp nhất trong vòng nhiều năm qua.

1.NHỮNG KHOẢN MỤC ĐÁNG CHÚ Ý

  • Doanh thu thuần giảm 217 tỷ : Doanh thu của PNJ có sự sụt giảm mạnh nhất trong tháng 04/2020 khi doanh nghiệp tiến hành đóng cửa để thực hiện giãn cách xã hội. Mặc dù 02 tháng còn lại có sự tăng trưởng ( đặc biệt là trong tháng 05 ) tuy nhiên doanh thu cả kì vẫn ghi nhận mức giảm -7.33%.
  • Bóc tách chi tiết doanh thu : Mảng chủ đạo của PNJ là vàng bạc trang sức ghi nhận sự sụt giảm 8.41% trong Quý 2. Thay vào đó mảng vàng miếng ghi nhận sự tăng trưởng 10.67% so với cùng kì. Tương tự như báo cáo Quý 1, xu hướng hiện tại là người tiêu dùng chuyển sang nắm giữ vàng miếng do những lo ngại về suy thoái kinh tế – thể hiện bằng việc giá vàng liên tục lập đỉnh trong thời gian qua.Trong khi đó, Quý 2 và Quý 3 thường là mùa thấp điểm của vàng trang sức do không có nhiều sự kiện đặc biệt. Điểm tích cực là việc doanh thu mảng bán lẻ liên tục tăng trưởng kể từ sau tháng 04 nhờ vào việc nhu cầu thị trường hồi phục tốt và doanh nghiệp đẩy mạnh các biện pháp tiếp cận khách hàng.
  • Biên lợi nhuận gộp đạt 17.33%( cùng kì đạt 21.95%) : Với sự gia tăng đáng kể của mảng vàng miếng làm cho biên lợi nhuận gộp của PNJ cũng giảm mạnh. Điều này đã được dự báo từ trước và Nhà đầu tư cần lưu ý đến vấn đề này vì mảng vàng trang sức được dự báo là sẽ tiếp tục gặp khó khăn khi mà nhu cầu của khách hàng giảm sút do suy thoái kinh tế.
  • Chi phí hoạt động/Doanh thu đạt 14% : Mặc dù giữ nguyên quy mô,  Tổng chi phí hoạt động đã giảm mạnh nhờ vào việc PNJ tích cực sử dụng hệ thống ERP, đàm phán lại giá thuê mặt bằng… tuy nhiên do việc doanh thu Quý 2 tương đối thấp dẫn đến hệ số này tăng cao so với các quý liền kề
  • Lợi nhuận và biên lợi nhuận ròng sụt giảm mạnh : Với việc doanh thu và biên lợi nhuận gộp cùng ghi nhận sự sụt giảm, Quý 2/2020 ghi nhận kết quả kinh doanh thấp nhất của PNJ trong vòng nhiều năm qua – và có thể là đáy trong thời gian tới. Lợi nhuận ròng sụt giảm 81% còn 32 tỉ đồng và Biên lợi nhuận ròng 1.17%  – giảm so với mức trung bình từ 6% – 7%.
  • Tổng số cửa hàng hiện tại là 339 cửa hàng :  Trước tình hình kinh doanh khó khăn chung, PNJ đã chủ động đóng cửa 20 cửa hàng không hiệu quả ( 11 PNJ Gold, 9 PNJ Silver ) trong khi đó mở mới 8 cửa hàng PNJ Gold và 18 cửa hàng PNJ Watch. Đặc biệt, một mô hình mới nâng cấp từ các cửa hàng PNJ Gold trước đây được đặt tên là PNJ Art – chuyên cung cấp các đồ mỹ nghệ kim hoàn, các sản phầm quà tặng cho khách hàng doanh nghiệp.

2.KẾT LUẬN

Với những đánh giá ngắn trên đây, chúng tôi cho rằng PNJ đang bị ảnh hưởng tiêu cực đến từ cả dịch bệnh và nhu cầu vàng bạc trang sức của thị trường giảm sút. Trong ngắn hạn, việc giá vàng miếng tiếp tục leo thang sẽ không ảnh hưởng quá tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.Với những diễn biến hiện tại, Chúng tôi dự phóng lợi nhuận ròng của PNJ năm nay khoảng 950 tỷ1.000 tỷ , tương ứng mức giảm 15% so với cùng kì . EPS fw khoảng 4.500.  P/E trung bình của PNJ ở khoảng 13.5 lần, tương ứng giá mục tiêu 60.000 /CP . Với mức giá hiện tại , chúng tôi cho rằng đã phản ánh tương đối sát kì vọng của Nhà đầu tư về KQKD của PNJ trong năm 2020.

15Aug

Cập Nhật KQKD FPT Quý 02-2020

by Người điều hành

Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh và suy thoái kinh tế, đặc biết là khách hàng ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang thực hiện những biện pháp giãn cách xã hội. Kết quả kinh doanh Quý 2 của FPT vẫn ghi nhận những điểm sáng

  1. TỔNG QUAN
  • Mặc dù gặp nhiều khó khăn do tác động của dịch bệnh, doanh thu thuần của FPT vẫn ghi nhân mức tăng 154 tỷ đồng : Tình hình dịch bệnh tác động tương đối phân hóa đến Kết quả kinh doanh của FPT. Mảng giáo dục và Quảng cáo trực tuyến là 02 mảng chịu tác động tiêu cực nhất khi ghi nhận mức sụt giảm -19% và – 24%. Trong khi đó mảng Viễn thông tăng trưởng tích cực trong bối cảnh nhu cầu sử dụng của khách hàng gia tăng. Mảng chủ đạo của FPT là Công nghệ ghi nhận mức sụt giảm nhẹ  – chủ yếu ở mảng Dịch vụ công nghệ thông tin trong nước.
  • Doanh thu theo khối và thị trường  :  Khối công nghệ vẫn chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu doanh thu, tiếp đến là mảng viễn thông và đầu tư  – giáo dục. Doanh thu từ thị trường nước ngoài vẫn tiếp tục được cải thiện.
  • Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ đạt 879 tỉ tăng trưởng 11% so với cùng kì. Biên lợi nhuận ròng duy trì ở mức cao 12.59% . EPS quý này đạt 1.121 / CP.
  • Tháng 07/2020, SCIC ra thông báo bán đấu giá trọn lô hơn 46 triệu cổ phần FPT với giá khởi điểm 49.400 đồng/CP – tương ứng với giá trị đạt gần 2.300 tỷ đồng. Tuy nhiên đã không có bất kì cá nhân, tổ chức nào đăng kí tham gia đấu giá.
  • Ngày 13/5/2020 FPT chi trả cổ tức còn lại bằng tiền tỉ lệ 10%. Thời gian thanh toán là ngày 05/06/2020. Ngoài ra công ty cũng chốt danh sách cổ đông phát hành 102 triệu cổ phiếu trả cổ tức tỉ lệ 15%.
  • Ngày 17/8/2020 FPT tạm ứng cổ tức đợt 1 năm 2020 bằng tiền tỉ lệ 10%.

2. PHÂN TÍCH CHI TIẾT CÁC KHỐI NGÀNH

2.1 Khối công nghệ

  • Dịch vụ công nghệ thông tin nước ngoài đóng vai trò chủ đạo : Doanh thu và LNTT của dịch vụ CNTT nước ngoài đạt 2.919 tỷ và 471 tỷ đồng, lần lượt tăng  11% và 14.3%. Trong đó, doanh thu từ dịch vụ chuyển đổi số đạt 1.044 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 35.8% doanh thu Khối công nghệ, tăng trưởng 72.6% so với cùng kỳ năm 2019 nhờ vào nhu cầu lớn đối với các công nghệ mới trong lĩnh vực số. Đáng chú ý Biên lợi nhuận của mảng CNTT nước ngoài là 15.4% – gấp 4 lần mảng CNTT trong nước do hàm lượng công nghệ trong sản phẩm cao và các khách hàng chủ yếu là các tập đoàn lớn. Đà tăng trưởng có phần giảm tốc trong các tháng gần đây do diễn biến phức của đại dịch COVID-19 trên toàn cầu ảnh hưởng đến công tác bán dịch vụ trong thời gian cuối quý 1, đầu quý 2. Tuy nhiên FPT đang cố gắng tiếp cận khách hàng qua các kênh trực tuyến thay vì truyền thống để tìm kiếm cơ hội.
  • Dịch vụ công nghệ thông tin trong nước : Chủ yếu là gia công , tích hợp hệ thống với hàm lượng chất xám thấp : Mặc dù chiếm 26% tỉ trọng doanh thu mảng công nghệ nhưng tỉ trọng lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 7%. Con số này tương ứng với giảm lần lượt là  15,5% và 36,8% . Vấn đề đặt ra cho FPT là cần đẩy mạnh triển khai các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn và tìm kiếm các hợp đồng chất lượng hơn.

2.2 Khối Viễn thông

  • Dịch vụ viễn thông : Dịch vụ viễn thông đạt doanh thu và LNTT lần lượt 2652 tỷ và 432 tỷ, tăng trưởng 11.1% và 17%. Thị trường Internet băng rộng cố định của Việt Nam tăng trưởng khoảng 14%/năm. Chúng tôi tin rằng với những lợi thế của mình, FPT sẽ duy trì được tốc độ tăng trưởng mảng viễn thông trên mức tăng chung của ngành, ở vào khoảng 15%.
  • Mảng Quảng cáo trực tuyến : Tiếp tục là mảng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ tác động của dịch bệnh do nhu cầu quảng cáo của doanh nghiệp giảm sút. Doanh thu và LNTT lần lượt giảm -24.36% và -31.4% so với cùng kỳ.

2.3 Khối giáo dục

Doanh thu mảng giáo dục giảm – 8.27 % so với cùng kì do các chương trình giáo dục bị đình trệ trong tháng 04 giãn cách xã hội. Tuy nhiên nhà trường đã nhanh chóng chuyển sang các hình thức dạy học trực tuyến để đảm bảo tiến độ giảng dạy.

3. TỔNG KẾT

Như vậy câu chuyện quan trọng nhất trong kì này là :

 -Nâng tỉ lệ tiền mặt và tiền gửi, tích cực thu hồi nợ để chủ động đối phó với những biến động khó lường ở thời điểm trước mắt.

 -Mặc dù được dự báo là sẽ gặp khó khăn do dịch bệnh nhưng kết quả kinh doanh của FPT vẫn rất khả quan với tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận sau thuế lần lượt là 2.26% và 11%

– Mảng công nghệ với mục tiêu đẩy mạnh chuyển đổi số và dịch vụ công nghệ thông tin nước ngoài là đầu tàu dẫn dắt đà tăng trưởng của doanh nghiệp trong thời gian tới. Trong báo cáo thường niên 2019 FPT chỉ rõ các bước đi của mình bằng việc tăng cường nhân sự, đẩy mạnh các sản phẩm “Made by FPT”, xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số, kết hợp với các tập đoàn trong và ngoài nước. Trong khi đó mảng dịch vụ CNTT trong nước cần nhiều hơn những giải pháp để mang lại hiệu quả kinh doanh tích cực hơn.

– Mảng viễn thông được dự báo là vẫn sẽ tăng trưởng do nhu cầu sử dụng các thiết bị công nghệ và quy định đẩy mạnh làm việc trực tuyến. Mức dự báo tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận khoảng 15%.

-Mảng quảng cáo trực tuyến và giáo dục sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng tiêu cực tuy nhiên do tỉ trọng đóng góp nhỏ nên sẽ không ảnh hưởng nhiều đến KQKD chung.

4. KHUYẾN NGHỊ

Với những đánh giá trên đây, quan điểm của chúng tôi cho rằng FPT là một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực công nghệ thông tin, không chỉ của Việt Nam mà đang từng bước vươn mình ra thế giới. Những lợi thế về mặt quản trị, con người, và dư địa phát triển của ngành công nghệ thông tin còn rất lớn. Mặc dù chịu ảnh hưởng chung của tình hình dịch bệnh, FPT vẫn là điểm sáng với kết quả kinh doanh tăng trưởng từ 10% – 15%. Với mức dự phóng trên, EPS fw của FPT ở vào mức 4.500 đ. Mức PE trung bình  khoảng 12 lần.Giá mục tiêu cho FPT là 54.000 /CP       (trước chia cổ tức). Ngoài ra FPT còn rất hấp dẫn đối với những Nhà đầu tư dài hạn nhờ việc chia cổ tức bằng tiền và cổ phiếu rất đều đặn trong vòng 5 năm qua và những năm tiếp theo.