0904 222 604

LOADING...

Category "Kiến thức đầu tư"

8Jun

Báo cáo kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 05/2020

by Người điều hành

1.Hoạt động kinh tế

1.1Hoạt động thương mại

  • Do các thị trường tiêu thụ lớn như châu Âu và Mỹ mới chỉ bắt đầu mở cửa trở lại từ tháng 5, nhu cầu suy giảm do tỷ lệ thất nghiệp cao và thu nhập giảm sút khiến hoạt động xuất khẩu chỉ có thể hồi phục trở lại từ quý 3. Trong khi đó, virut corona đã đem lại một làn sóng bảo hộ thương mại mới, với việc kêu gọi hồi hương các chuỗi cung ứng sản xuất tại các nền kinh tế lớn, giảm sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu, khiến hoạt động thương mại toàn cầu bị ảnh hưởng tiêu cực hậu Covid. Kim ngạch xuất khẩu tháng 4 của Việt Nam giảm 13,7% so với cùng kỳ, trong khi tháng 5 ước tính giảm 15,5% yoy.
  • Tuy nhiên, khi Mỹ và Châu Âu mở cửa nền kinh tế trở lại trong tháng 5 và tháng 6, tỷ lệ thất nghiệp tại các khu vực này sẽ giảm, thu nhập, nhu cầu và niềm tin tiêu dùng của người lao động sẽ hồi phục chậm rãi trở lại. Các số liệu về hoạt động thương mại, xuất khẩu sẽ tạo đáy trong tháng 6 nếu chuỗi cung ứng toàn cầu không bị gián đoạn. Mặc dù vậy, khi tại các thị trường xuất khẩu lớn tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao kỷ lục, quan ngại của người tiêu dùng về các vấn đề chi tiêu do thu nhập bị ảnh hưởng, hạn chế trong hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mức độ hồi phục của hoạt động thương mại của Việt Nam và châu Á nói chung sẽ tiếp tục bị giới hạn trong năm 2020.

1.2Sản xuất công nghiệp

  • Chỉ số PMI của Việt Nam trong tháng 5 đã hồi phục lên mức 42,7 từ mức thấp kỷ lục 32,7 trong tháng 4 theo số liệu từ IHS Markit, tuy nhiên vẫn nằm trong vùng suy giảm dưới ngưỡng cân bằng 50 điểm. Sản xuất công nghiệp trong tháng 5 (IIP) theo TCTK giảm 3,1% so với cùng kỳ, tuy nhiên đã hồi phục 11,2% so với tháng trước, khiến sản xuất công nghiệp trong năm tháng đầu năm 2020 vẫn tăng 1% (so với mức tăng 9,1% trong năm 2019).
  • Với phần lớn nền kinh tế mở cửa trở lại từ tháng 5, kỳ vọng hoạt động sản xuất công nghiêp của Việt Nam sẽ hồi phục từ tháng 6. Nhiều bất ổn kinh tế, rủi ro làn sóng tái nhiễm sẽ khiến ngành sản xuất công nghiệp chỉ có thể hồi phục một cách bền vững hơn trong năm 2021, khi nhu cầu trên thị trường quốc tế được bình thường hoá trở lại.

1.3Tiêu dùng

  • Doanh thu bán lẻ trong tháng 5 đã hồi phục trở lại sau khi các biện pháp cách ly xã hội chấm dứt, tăng 27% so với tháng trước lên mức 585 nghìn tỷ đồng, tuy nhiên vẫn giảm 4,8% so với cùng kỳ. So với mức giảm sâu 26% yoy trong tháng 4, doanh thu bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trong tháng 5 vẫn cho thấy các dấu hiệu tích cực khi hoạt động chi tiêu hồi phục trở lại. Doanh thu bán lẻ lương thực, thực phẩm trong 5T2020 tăng 6,1% so với cùng kỳ, dù hoạt động tích trữ lương thực thực phẩm đã suy giảm trong tháng 5, một phần được hỗ trợ bởi lạm phát giá thực phẩm (+14% yoy).
  • Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 5 chỉ đạt 22,7 nghìn lượt, giảm 98% so với cùng kỳ năm ngoái là yếu tố cản trở sự phục hồi của ngành bán lẻ. Tính chung 5 tháng đầu năm, lượng khách quốc tế đến Việt Nam giảm 48,8% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 3,7 triệu lượt người.

1.4Đầu tư

  • Tổng vốn FDI vào Việt Nam từ đầu năm đến ngày 20/5 giảm 17% so với cùng kỳ, đạt 13,9 tỷ USD trong bối cảnh hoạt động kinh doanh nhiều bất ổn và các chuyến bay quốc tế bị huỷ bỏ. Đây là xu hướng chung khi dòng vốn FDI toàn cầu trong năm 2020 được dự báo sẽ sụt giảm 40% theo UNCTAD
  • Mặc dù xu hướng đảo ngược toàn cầu hoá đang tăng tốc, nhu cầu đa dạng hoá chuỗi cung ứng nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Quốc đang giúp Việt Nam đón nhận các khoản đầu tư trong lĩnh vực công nghệ đến từ các tập đoàn công nghệ đa quốc gia lớn. Dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ hồi phục trong giai đoạn 2021-2024, tuy nhiên sẽ chịu tác động ngắn hạn trong năm nay do ảnh hưởng của Covid, với mức giảm dự kiến khoảng 8-10 tỷ USD so với năm 2019.

2.Chính sách

Thu ngân sách giảm 4,3% so với cùng kỳ trong 5 tháng đầu năm : Ngân sách chính phủ tiếp tục chịu áp lực khi các khoản thu ngân sách trong 5 tháng đầu năm giảm 4,3% so với cùng kỳ do những tổn thất kinh tế từ việc cách ly xã hội trong tháng 4. Tăng trưởng kinh tế thấp khiến nguồn thu NSNN bị co hẹp, đạt 530 nghìn tỷ với nguồn thu từ dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu giảm lần lượt 13,3% và 15,9% so với cùng kỳ. Trong khi đó, các khoản chi nhằm kích cầu nền kinh tế khiến tổng chi NSNN trong 5T tăng 10,4% yoy lên mức 537 nghìn tỷ, trong đó các khoản chi đầu tư phát triển được đẩy mạnh, tăng 25,8% so với cùng kỳ.

3.Lạm phát

Lạm phát tháng 5 giảm 0,03% so với tháng trước và giảm 1,24% so với thời điểm cuối năm 2019

Lạm phát tháng 5 giảm 0,03% so với tháng 4 và giảm 1,24% so với tháng 12/2019. Nguyên nhân của mức giảm của CPI trong tháng 5 chủ yếu xuất phát từ nhóm giao thông (-23,4% yoy) do giá xăng giảm mạnh và nhóm văn hoá, giải trí và du lịch giảm 1,4% yoy. Tuy nhiên, áp lực lạm phát sẽ gia tăng trở lại trong tháng 6 khi giá dầu Brent trên thế giới nhanh chóng hồi phục lên ngưỡng US$40/thùng, từ mức thấp US$17 thời điểm giữa tháng 4. Trong khi đó, giá thịt lợn vẫn đang duy trì tại mức đỉnh lịch sử, lạm phát thực phẩm trong tháng năm tăng 15,3% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thị lợn chiếm tỷ trọng chính trong nhóm thực phẩm. Tại Việt Nam, giá của các hàng hoá cơ bản như lương thực, thực phẩm, và xăng dầu có tác động lớn đến lạm phát, khác với các quốc gia phát triển có chỉ số giá dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong CPI, vì vậy áp lực lên giá thịt lợn và giá xăng dầu sẽ khiến lạm phát khó có thể tiếp tục giảm trong thời gian tới.

4.Tỷ giá

Tỷ giá VND/USD khá ổn định trong tháng 5 dù thị trường quốc tế có nhiều biến động

7Jun

Cuộc chiến tại Coteccons – Bao giờ đến hồi kết ?

by Người điều hành

Trong một buổi sáng thứ 7 oi nóng, Đầu cơ Tích trữ rất vui mừng khi rất đông Nhà đầu tư đã tới tham dự buổi chia sẻ của chúng tôi về cổ phiếu CTD – Công ty cổ phần Xây dựng Coteccons. Không thể phủ nhận đà phát triển thần kì của thành phố Hải Phòng hiện tại có dấu ấn rất rõ nét của màu áo xanh CTD với những Đại dự án như khu Vinhomes, các khu công nghiệp VSIP, Tràng Duệ… khiến cho người dân và Nhà đầu tư  Hải Phòng tương đối thân thuộc với doanh nghiệp này. Tuy nhiên những lùm xùm giữa đội ngũ lãnh đạo và cổ đông lớn Kusto đã khiến cho thương hiệu và giá cổ phiếu của CTD  lao dốc “không phanh” từ cuối năm 2017 đến nay. Là một deal đầu tư thành công của đội ngũ Đầu cơ Tích trữ trong quá khứ, chúng tôi hi vọng những kiến thức và kinh nghiệm của bản thân sẽ hỗ trợ Nhà đầu tư trong  bối cảnh những căng thẳng này đang có dấu hiệu ngày càng trở nên gay gắt và khó dự đoán.

1.Sơ lược những sự kiện dẫn đến mâu thuẫn giữa 02 bên

  • Trong bối cảnh chu kì của ngành bất động sản và xây dựng suy thoái dẫn đến hoạt động của doanh nghiệp gặp khó khăn. CTD cần dòng tiền lớn để duy trì hoạt động và phát triển, tháng 03/2012 Kusto trở thành Cổ đông chiến lược của CTD với việc rót hơn 500 tỷ ( 25 triệu USD) để đổi lấy 10.430.000 cp và sở hữu 24.72% vốn điều lệ. Đây được coi là cơ hội hợp tác cùng có lợi khi có người có vốn gặp người có năng lực.
  • Năm 2014, Kusto “ bí mật “ thành lập một pháp nhân với tên gọi là Công ty TNHH MTV Kinh doanh và đầu tư Thành Công sau đó tiến hành gom cổ phiếu và chính thức sở hữu 7.194.489 cổ phiếu – tương đương 17.05% VĐL. Tính chung cả 02 pháp nhân hiện tại, nhóm cổ đông Kusto đã sở hữu 41.77% ( Một con số đủ lớn để có thể phủ quyết mọi tờ trình và kế hoạch của ban lãnh đạo). 
  • Năm 2015, nhận thấy sự “ bành trướng “ của nhóm cổ đông Kusto có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Đội ngũ lãnh đạo của CTD đã tiến hành tăng số lượng cổ phiếu bằng cách hoán đổi cổ phiếu của Unicons – một công ty trong nhóm Cotecs Group lấy cổ phiếu CTD tỉ lệ 1:0.745, qua đó gián tiếp làm giảm tỉ lệ sở hữu của nhóm cổ đông Kusto xuống.
  • Năm 2016, CTD tiếp tục tăng vốn điều lệ – một hình thức giảm tỉ lệ sở hữu của cổ đông hiện hữu bằng cách phát hành cho cổ đông chiến lược và cái tên Kusto mặc dù đủ điều kiện nhưng đã không được chấp thuận góp vốn – từ đây mâu thuẫn được đẩy lên một nấc thang mới.
  • Từ năm 2016 -2019 : Ricons với những bước tiến thần tốc của mình đã tăng quy mô và hoạt động sản xuất, thể hiện thông qua kết quả kinh doanh. Điều đáng chú ý là lãnh đạo của Ricons đều đang là lãnh đạo của Coteccons.Câu hỏi được đặt ra là liệu có sự “ nuôi dưỡng “, tuồn lợi ích từ công ty mẹ sang công ty con của nhóm lãnh đạo này hay không ? 
  • Năm 2019 : CTD có tờ trình tăng tỉ lệ sở hữu tại Ricons lên 100% thông qua chiêu thức cũ – hoán đổi để pha loãng cổ phiếu. Tờ trình này đã bị nhóm cổ đông Kusto phản ứng bằng việc phản đối hủy kết quả ngay trước ngày diễn ra đại hội. Nguyên nhân đưa ra là hoạt động này không có bất kì tác dụng nào đối với doanh nghiệp mẹ là CTD – ông Nguyễn Bá Dương sau đó cũng phát biểu rằng sẽ không bao giờ nhắc đến chuyện sáp nhập nữa.
  • Năm 2020 : Kusto đề nghị triệu tập cuộc họp Đại hội cổ đông bất thường  yêu cầu bãi nhiệm chức vụ của Chủ tịch và ban lãnh đạo  CTD.

=> Sau tất cả Chúng tôi cho rằng, mục đích chính của cả 2 nhóm lãnh đạo  và cổ đông lớn của CTD hiện tại đều là “GIA TĂNG TỈ LỆ SỞ HỮU” nhằm ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP. Một cuộc “hôn nhân” mà “Anh góp của – Tôi góp công” nhưng cả 02 chúng ta đều muốn làm “ chủ gia đình” và đáng lẽ ra nó “không nên diễn ra”

2.Về ông Nguyễn Bá Dương và mối quan hệ giữa Coteccons và Ricons

-Ông Nguyễn Bá Dương sinh ngày 22/ 04/ 1959, Tốt nghiệp khoa kiến truc trường đại học xây dựng Kiev năm 1984.

-Ông sáng lập và điều hành Công ty Coteccons từ khi còn là một bộ phân Khối xây lắp trực thuộc công ty KTXD và VLXD – Tổng công ty Fico đến nay Coteccons đã trở thành một trong những công ty Xây dựng hàng đầu tại Việt Nam.

“Ricons tiền thân là Công ty Xây dựng Phú Hưng Gia, thành lập năm 2004. Ricons là 1 trong 4 công ty liên kết của Coteccons. Trên báo cáo tài chính quý I, giá trị của 14,3% vốn tại Ricons của Coteccons được hạch toán là 308 tỷ đồng.

-Chủ tịch HĐQT của Ricons là ông Trần Quang Quân, Phó tổng giám đốc Coteccons. Chủ tịch Trần Bá Dương và CEO Nguyễn Sỹ Công của Coteccons là thành viên HĐQT của Ricons.”

-“Bước sang 2019, hoạt động kinh doanh của Ricons chững lại khi doanh thu và lợi nhuận sụt giảm còn 8.800 tỷ đồng và 360 tỷ đồng. Mức lãi này tương đương 51% lợi nhuận ròng của Coteccons.”

3.Về phía Kusto 

-Công ty Kustoshem (Kusto) với vị thế là cổ đông lớn nhất tại Coteccons khi sở hữu 18,2% cổ phần có quyền biểu quyết trực thuộc Kusto Group. Tập đoàn này đặt trụ sở ở Singapore và hoạt động ở 10 quốc gia, kinh doanh nhiều lĩnh vực như bất động sản, vật liệu xây dựng, dầu khí, nông nghiệp.

-Kusto đầu tư vào Việt Nam từ năm 2005 bắt đầu với tên Công ty quản lý đầu tư BTA – tên của một ngân hàng bị phá sản ở Kazakhstan.

-Trong HĐQT của Coteccons có 2/7 nhân sự đến từ Kusto là các ông Talgat Turumbayev và ông Yerken Tatishev. Hai vị doanh nhân này đều mang quốc tịch Kzakhstan. Một cổ đông lớn khác của Coteccons là Công ty TNHH MTV Kinh doanh và đầu tư Thành Công với 14.7% cổ phần cũng liên quan đến Kusto. Chủ tịch công ty này là ông Ablakhat Kebirov, quốc tịch Kazakhstan. Ông Kebirov nằm trong ban lãnh đạo của công ty Kusto Home ở Việt Nam

-Tính đến thời điểm hiện tại, thông qua 02 pháp nhân là Kustocem Pte.Ltd và Công ty TNHH MTV Kinh doanh và đầu tư Thành Công và cá nhân ông Talgat Tarumbayev, quỹ đầu tư nước ngoài này đang nắm xấp xỉ 35% cổ phiếu của CTD

-Những thương vụ đầu tư trước đây của Kusto ở Việt Nam là Công ty cổ phần xây dựng Descon và Công ty Beton 6 ( BT6) đều theo 01 quy trình : Trở thành cổ đông lớn -> Chiếm quyền phủ quyết ( 35% ) -> Chiếm quyền kiểm soát ( 50% ) -> Đuổi ban lãnh đạo cũ ra khỏi công ty -> Rút ruột công ty -> Phá sản.

4. Kết cục nào cho CTD

Cuối cùng, chúng tôi cho rằng cả phía Ban lãnh đạo doanh nghiệp mà  đứng đầu là ông Nguyễn Bá Dương và cổ đông lớn Kusto đều KHÔNG SAI. Mỗi bên đều có một mục đích riêng và hành động vì mục đích đó. Tuy nhiên đứng trên khía cạnh là KHÁCH HÀNG và NGƯỜI LAO ĐỘNG của CTD – Chúng tôi mong muốn rằng, trước hết cuộc chiến này cần phải chấm dứt và quyền kiểm soát nên dành cho bên có cái TÂM TRONG SÁNG HƠN – ở đây là ban lãnh đạo của doanh nghiệp. Còn đứng trên khía cạnh NĐT, đây là một case có quá nhiều biến số, mà quan trọng nhất là ý chí và đạo đức của cả 02 bên.

Tuy nhiên cần nhấn mạnh đây không phải là trường hợp đầu tiên một doanh nghiệp của Việt Nam đứng trước sự xung đột giữa ban lãnh đạo và cổ đông lớn là các quỹ ngoại. Trong quá khứ, case điển hình để chúng ta tìm hiểu là VCS – Công ty cổ phần Vicostone. Sau khi giải quyết được mâu thuẫn, VCS đã cất cánh và trở thành SIÊU CỔ PHIẾU trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Hiện tại tình hình ở CTD cũng có nhiều nét tương đồng với VCS giai đoạn đó, do đó chúng tôi dự phóng 03 kịch bản :

  • Ban lãnh đạo dành lại được quyền kiểm soát, đuổi được Kusto ra khỏi công ty : Nếu trường hợp này xảy ra, rất cần sự công khai minh bạch và quan tâm đến lợi ích cổ đông nhỏ lẻ của ban lãnh đạo. Nếu ban lãnh đạo tập trung vào doanh nghiệp, CTD sẽ trở lại thời kì hoàng kim trước đó. Đối tác khách hàng, công nhân viên, Nhà đầu tư đều được hưởng thành quả. Còn trường hợp ngược lại ông Dương tiếp tục “ rút ruột “ , tuồn lợi ích sang phía Ricons – Chúng ta cũng cần phải rút lui khỏi CTD.
  • Ban lãnh đạo không kiểm soát được tình hình, nhóm Kusto chiếm quyền kiểm soát : Khi đó gần như là nhân sự, công nghệ, máy móc… của CTD hiện tại sẽ ra đi . Việc Kusto quan tâm là là “cái xác “ CTD này giờ “ thanh lý “ được bao nhiêu, không cần quan tâm đến hoạt động kinh doanh mà chỉ cần quan tâm đến lợi ích của bản thân – Cổ đông nhỏ lẻ là những người sẽ bị thiệt hại.
  • Hai bên không đi đến được thỏa thuận cụ thể, tiếp tục tranh giành tỉ lệ sở hữu : Hoạt động doanh nghiệp trì trệ – Cổ đông chịu thiệt hại.

20May

Làn sóng đầu tư công, có phải tất cả các doanh nghiệp cùng được hưởng lợi ?

by Người điều hành

Từ khóa “Đầu tư công” là từ khóa được nhiều nhà đầu tư trong nước tìm kiếm trong bối cảnh dịch bệnh và nền kinh tế đang có những dấu hiệu suy thoái. Đây là giải pháp quan trọng, góp phần kích cầu xã hội, hỗ trợ hồi phục nền kinh tế. Kì vọng vào việc các doanh nghiệp trong ngành được hưởng lợi đã thu hút lượng lớn dòng tiền tham gia mua cổ phiếu, bất chấp hoạt động kinh doanh không có gì quá ổn định – thậm chí là khó khăn.

Read More
20May

Triển vọng kinh tế thế giới tháng 05/2020

by Người điều hành

1. Tăng trưởng kinh tế

Dịch Covid-19 đã có dấu hiệu được kiểm soát tại các nền kinh tế lớn như Mỹ và châu Âu, hiện tại, các nước đang tập trung cân bằng giữa việc tái khởi động nền kinh tế và giảm thiểu rủi ro tái nhiễm. Nền kinh tế mở cửa trở lại từng phần và tuỳ khu vực từ nửa sau tháng 5 sẽ giúp các hoạt động kinh tế được cải thiện, tuy nhiên lộ trình hồi phục của nền kinh tế sẽ vẫn còn nhiều khó khăn và chưa thế quay về mức trước khi dịch bệnh bùng phát trong năm nay. Thói quen tiêu dùng sẽ thay đổi khi nền kinh tế mở cửa trở lại, chỉ đến khi có vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị Covid-19, người tiêu dùng vẫn chưa thể bình thường hoá các hoạt động thường nhật cũng như thói quen chi tiêu sau dịch. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tiếp tục đối mặt với doanh thu sụt giảm trong khi mức đòn bẩy lại tăng cao, vì vậy các gói hỗ trợ từ chính phủ cần nhanh chóng tiếp cận đến nhóm doanh nghiệp này để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong thời gian này

2. Thị trường dầu mỏ

Cú shock nhu cầu dầu do virut corona gây ra trong khi nguồn cung biến động do cuộc chiến giành thị phần của các nhà sản xuất lớn tiếp tục leo thang đã khiến giá dầu có thời điểm rơi xuống mức âm xấp xỉ 38 USD/thùng giữa tháng 4. Nhu cầu dầu mỏ trong Q1 ước tính giảm khoảng 6 triệu thùng/ngày thay vì tăng 1 triệu thùng/ngày như dự báo trước đây. Nhu cầu về dầu sẽ tăng trở lại khi các biện pháp giãn cách xã hội được gỡ bỏ tuy nhiên mức độ sẽ không lớn.

3. Thị trường lao động

Tỷ lệ thất nghiệp tăng mạnh tại Mỹ và Châu Âu trong tháng 3 và tháng 4, vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009. Từ nửa cuối tháng 3 đến tuần 10/5, chỉ trong 8 tuần, số đơn xin trợ cấp thất nghiệp mới tại Mỹ đã tăng lên 36,5 triệu, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ tăng từ 10,3% lên 14,7%. Dự kiến tỷ lệ thất nghiệp đã tạo đỉnh trong tháng 4, sau đó giảm dần từ tháng 5, đưa tỷ lệ thất nghiệp cả năm tại Mỹ xuống mức 9,5-10%, tương đương với cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009.

4. Sản xuất

Sản xuất công nghiệp tại Trung Quốc tăng 3,9% yoy trong tháng 4. Mức tăng trưởng đến từ sự hồi phục của lĩnh vực sản xuất ôtô và máy móc thiết bị tại Vũ Hán sau khi khu vực này được dỡ lệnh phong toả. Sản xuất công nghiệp tại Mỹ và Châu Âu cũng rơi vào đà sụt giảm mạnh do sự bùng phát của Covid-19 trong tháng 4. Dự kiến ngành công nghiệp sẽ hồi phục trở lại sau khi các lệnh phong toả được dỡ bỏ khi các đơn hàng bị trì hoãn được thực hiện, kéo theo đó là sự hồi phục của nền kinh tế trong nửa cuối 2020 và trong năm 2021.

5. Tiêu dùng

Doanh thu bán lẻ sụt giảm mạnh trong thời gian có lệnh cách ly xã hội để hạn chế sự lây lan của Covid-19. Nhu cầu các mặt hàng không thiết yếu như quần áo, đồ điện tử và thiết bị gia dụng, đồ nội thất sụt giảm mạnh trong khi chi tiêu cho các mặt hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm lại gia tăng do nhu cầu tích trữ. Thu nhập giảm do lao động mất việc làm và bị cắt giảm lương do dịch bệnh sẽ khiến doanh thu bán lẻ sẽ suy giảm trong năm 2020, tuy nhiên mức độ giảm sẽ giảm dần kể từ quý 2, và kỳ vọng sẽ hồi phục kể từ Q3/2020.

6. Chính sách

Ở chu kỳ suy thoái hiện tại, các NHTW đã hành động nhanh chóng, có những giải pháp chưa có tiền lệ như mua trái phiếu doanh nghiệp. Với các biện pháp quyết liệt, các NHTW đã tạm giảm thiểu được hậu quả to lớn như lần khủng hoảng trước. Tuy nhiên, rủi ro đi kèm với việc mua trái phiếu doanh nghiệp cũng đáng quan ngại. Nếu dịch bệnh diễn biến xấu, doanh nghiệp dù được hỗ trợ vẫn không thể cầm cự và xin phá sản, ảnh hưởng đến chất lượng bảng cân đối kế toán của các NHTW. Ngoài ra, các biện pháp này cũng làm nhiều người dân không hài lòng vì họ cho rằng các công ty có tình hình kinh doanh kém hiệu quả nên bị thải loại thay vì được cứu trợ.

Đối với chính sách tài khóa, chính phủ các nước đều đang tung ra các gói hỗ trợ người dân trong bối cảnh dịch bệnh vẫn phức tạp, lệnh giãn cách xã hội đang còn hiệu lực. Mặc dù các gói cứu trợ liên tục được tung ra, con đường phía trước vẫn còn rất gian nan. Chủ tịch Fed Jerome Powell phát biểu rằng nền kinh tế Mỹ vẫn chịu rất nhiều rủi ro suy thoái, kéo theo hệ quả là một giai đoạn dài với năng suất lao động thấp cùng tăng trưởng trì trệ.

7May

Tình hình kinh tế Việt Nam cuối tháng 04/2020

by Người điều hành

I. Hoạt động kinh tế

1. Tăng trưởng kinh tế

– Sau khi bắt đầu giãn cách xã hội từ ngày 01/04, các hoạt động kinh tế, sản xuất đã mở cửa trở lại từ ngày 23/04. Rủi ro của làn sóng tái nhiễm vẫn ở mức cao, tuy nhiên phương pháp tái khởi động nền kinh tế một cách cẩn trọng áp dụng mô hình của Trung Quốc đang được chính phủ nhiều quốc gia thực hiện, trong đó có Việt Nam, sẽ phần nào giảm thiểu rủi ro này tái nhiễm trong khi hạn chế được tác động lên nền kinh tế. Các chính sách này bao gồm: cách ly theo từng khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao, sử dụng công nghệ truy tìm đối tượng đã tiếp xúc với bệnh nhân, thực hiện cách ly tập trung cũng như cách ly tại nhà với các đối tượng nghi nhiễm. Hoạt động kinh tế trong tháng 4 suy giảm mạnh do biện pháp cách ly xã hội được áp dụng nhằm kiểm soát dịch bệnh. Hoạt động sản xuất, bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng bị gián đoạn khi phải đóng cửa theo yêu cầu của chính phủ, hoạt động xuất khẩu suy yếu do các thị trường lớn như Mỹ, EU và Trung Quốc huỷ đơn hàng do dịch bệnh bùng phát.

2. Hoạt động thương mại

Số liệu xuất khẩu hàng hoá theo TCTK trong tháng 4 cho thấy mức tăng trưởng âm 3,5% yoy so với mức tăng 0,5% yoy trong 3 tháng đầu năm. Nhập khẩu giảm 2,3% yoy, trước đó giảm 1,9% trong Q1/2020, đạt 20,4 tỷ USD. Thặng dư thương mại trong 4 tháng đầu năm ước đạt 3 tỷ USD, trong khi Q1 thặng dư 3,7 tỷ USD. Mức xuất siêu đã đóng góp một phần tích cực vào tăng trưởng GDP Việt Nam trong Q1, tuy nhiên, do các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Mỹ và EU sẽ suy thoái mạnh trong Q2 khi dịch virus corona bùng phát tại các quốc gia này, nhu cầu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam tại các thị trường này sẽ sụt giảm trong Q2, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, nhu cầu lao động và tăng trưởng kinh tế.

3. Sản xuất công nghiệp

Theo số liệu từ TCTK công bố ngày 29/4, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trong tháng 4/2020 giảm 10,5% so với cùng kỳ, trong khi Q1 đạt mức tăng 5,3% yoy. Tháng 4/2020 là lần đầu tiên chỉ số sản xuất công nghiệp tăng trưởng âm trong giai đoạn 2016-2020. Sản xuất công nghiệp sẽ hồi phục một phần trong tháng 5, khi các nhà máy triển khai thực hiện các đơn hàng bị trì hoãn do phải đóng cửa trong 3 tuần cách ly xã hội.

4. Tiêu dùng

Doanh thu bán lẻ trong tháng 4 sụt giảm mạnh 26% so với cùng kỳ do yêu cầu đóng cửa của chính phủ để kiểm soát dịch bệnh, trong khi Q1 có mức tăng 4,7% yoy. Nhìn chung tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm giảm 4,3% yoy, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 9,6% (so với mức tăng 8,8% cùng kỳ 2019). Doanh thu bán lẻ hàng hoá 4T vẫn tăng nhẹ 0,4% so với cùng kỳ nhờ mua sắm qua kênh thương mại điện tử góp phần giảm nhẹ mức sụt giảm.

 

II. Chính sách

1. Dịch cúm corona gây áp lực lớn lên ngân sách của chính phủ

Theo số liệu TCTK công bố ngày 29/4, thu NSNN trong 4T2020 chỉ tăng trưởng 1,5%, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2017 (so với mức tăng 20% cùng kỳ 2019). Hoạt động xuất nhập khẩu tăng trưởng yếu do dịch bệnh khiến doanh thu cho NSNN từ XNK giảm 14,3% so với cùng kỳ, chỉ đạt 58 nghìn tỷ đồng. Thu NSNN từ thuế công, thương nghiệp, dịch vụ, thuế TNCN và thuế bảo vệ môi trường chỉ tăng 5,4% yoy (so với mức tăng 17,7% cùng kỳ 2019.

III. Lạm phát

1. Lạm phát tháng 4 giảm 1,5% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng suy yếu bởi dịch Covid và giá xăng dầu giảm mạnh

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4 tăng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái, giảm từ mức tăng 4,9% yoy trong tháng 3 theo số liệu mới công bố từ TCTK. CPI tháng 4 giảm 1,5% MoM do nhu cầu tiêu dùng suy yếu bởi dịch cúm Corona và do giá nhiên liệu giảm mạnh. Lạm phát của nhóm thực phẩm duy trì ở mức cao do giá thịt lợn tăng mạnh do thiếu hụt nguồn cung.

IV. Tỉ giá

1. Can thiệp của Fed trên thị trường ngoại hối đã giúp tỷ giá VND/USD ổn định trở lại trong tháng 4

Tỷ giá đã ổn định trở lại sau khi tăng mạnh 2% trong tháng 3 do nhà đầu tư đẩy mạnh mua vào đồng USD do Covid-19 khiến đồng bạc xanh tăng giá, dẫn đến các tài sản khác giảm. Đồng thời, cũng như các thị trường mới nổi khác, Việt Nam cũng chứng kiến dòng vốn ngoại bị rút ròng trong Q1 khi nhà đầu tư bán mạnh các tài sản rủi ro để giảm thiểu tác động do thị trường tài chính biến động mạnh trong tháng 3. Tuy nhiên, chênh lệch lãi suất giữa tiền đồng và USD đã giảm đáng kể khi Fed giảm mạnh lãi suất giữa tháng 3 khiến đà giảm giá của VND được hạn chế, đồng thời, việc Fed cung cấp kênh hoán đổi đồng USD cho thị trường quốc tế đã giúp ổn định tâm lý của nhà đầu tư, kiềm chế đà tăng của chỉ số USD. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam do NHNN công bố đầu tháng 4 đang ở mức 84 tỷ USD, mức dự trữ ngoại hối kỷ lục sẽ giúp NHNN ổn định tỷ giá bằng việc bán ra USD, qua đó làm giảm áp lực giảm giá lên tiền đồng.